Bài học đắt giá từ sự cố truyền thông khoa học

Câu chuyện về vắcxin viêm gan trong năm 2007 là một bài học quí báu cho việc kiểm tra nguồn gốc thông tin. Khởi đầu là 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn chính sách này.

Theo một cuộc thăm dò ý kiến ở Mĩ, 75% người được thăm dò cho biết họ thường theo dõi các thông tin liên quan đến thực phẩm và y tế trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong số này, 58% người được hỏi cho biết họ sẵn sàng thay đổi lối sống hay hành động theo các bản tin đó.

Năm 2007, chúng ta đã từng chứng kiến một số sự cố truyền thông khoa học xảy ra ở nước ta, và cũng gây ra vài tác động tương đối nghiêm trọng. Chẳng hạn như một bản tin về bưởi và ung thư có làm giảm giá bưởi từ 8.000-10.000 đồng/kílô xuống còn 1.000 đồng/kílô, và gây thiệt hại không ít cho nhiều nông dân sản xuất và doanh nghiệp phân phối bưởi.

Một bản tin về sự cố của vắcxin viêm gan B có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực của công chúng đến loại vắcxin này. Những ‘sự cố’ này để lại cho chúng ta một số kinh nghiệm và bài học quan trọng.

Cần kiểm tra nguồn gốc và chất lượng nghiên cứu

Câu chuyện về vắcxin viêm gan trong năm 2007 là một bài học quí báu cho việc kiểm tra nguồn gốc thông tin. Khởi đầu là 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn chính sách này. Một số báo chí bắt đầu đặt câu hỏi về hiệu quả và an toàn của vắcxin.

Một bài báo với tựa đề khá giật gân ‘Hàng trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ’, mà trong đó tác giả lthông tin trên website của ông Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí trị liệu có nhiều ý kiến ‘phi chính thống’ và nổi tiếng chống đối các chương trình tiêm chủng ngừa. Ông Mercola đã bị các cơ quan y tế Mĩ cảnh cáo vài lần về việc đưa tin… sai lạc.

Các bài báo khoa học có chất lượng cao cũng thường xuất hiện trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt nghiêm chính. Vì thế, một trong những việc mà phóng viên cần làm là kiểm tra nguồn gốc của nghiên cứu, và công trình đó được tập san khoa học nào công bố. Chẳng hạn như công trình nghiên cứu về bưởi và ung thư được công bố trên tập san ung thư của Anh, một tập san tương đối nhỏ và cũng không có ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành.

Phân biệt tương quan và mối liên hệ nhân quả

Trong y khoa, người ta phân biệt hai thuật ngữ cause-effect relationship (mối liên hệ nhân quả) và association (tương quan). Trong các mô hình nghiên cứu vừa trình bày trên, chỉ có nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên là có thể cho phép chúng ta phát biểu về nguyên nhân và hệ quả, còn các mô hình nghiên cứu khác chỉ cho phép chúng ta phát biểu về mối tương quan.

Liên quan chỉ là một điều kiện cần nhưng chưa đủ để phát biểu một nguyên nhân. Nếu giá xăng dầu tăng theo ngày tháng, và chúng ta càng ngày càng cao tuổi, thì mối tương quan giữa giá xăng dầu và tuổi đời sẽ rất cao; nhưng điều đó không có nghĩa là tuổi tác là nguyên nhân làm cho giá xăng dầu tăng! Tương tự, có thể lấy một ví dụ dí dỏm hơn: nếu một chàng trai tặng người bạn gái mình một đóa hoa hồng, và người bạn gái mỉm cười; chúng ta không thể biết nàng mỉm cười vì đóa hoa hồng, hay vì cử chỉ lịch sự của chàng trai.

Nhưng trong thực tế, mối tương quan giữa hai yếu tố A và B rất dễ bị nhầm lẫn là mối liên hệ nhân quả. Chẳng hạn như trong vụ bộc phát bệnh tiêu chảy và bệnh tả vào tháng 10 vừa qua xảy ra một sự ngộ nhận đáng tiếc về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Một vài quan chức y tế cho rằng mắm tôm là nguyên nhân, là nguồn gốc của sự bộc phát bệnh tả. Thật ra, đây là một sự nhầm lẫn về khái niệm. Nguyên nhân (cause) là yếu tố sinh học trực tiếp gây bệnh, như vi khuẩn V. cholerae gây bệnh tả, còn yếu tố nguy cơ (risk factors) là những yếu tố - qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp - làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Chẳng hạn như nước bị ô nhiễm có thể là một yếu tố nguy cơ của bệnh tả vì nước có thể hàm chứa vi khuẩn tả; nhưng nước không phải là nguyên nhân gây bệnh tả bởi vì không phải ai uống nước ô nhiễm cũng đều mắc bệnh, họ chỉ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không uống nước ô nhiễm.

Một trong những ngộ nhận về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ là lí luận mà các quan chức y tế từng phát biểu như ‘Theo Sở Y tế Hà Nội, có đến 90% số bệnh nhân kể trên đã ăn các thực phẩm sống, chủ yếu là mắm tôm, mắm tép và đây chính là nguồn truyền vi khuẩn gây bệnh’. Thật ra, đây là một loại … ngụy biện khá phổ biến trong khoa học, mà người ta đã chỉ ra từ rất lâu.

Điều quan trọng cần phải phân biệt để hiểu hai phát biểu sau đây: (a) trong số những người mắc bệnh tả, 90% từng ăn mắm tôm, và (b) trong số những người ăn mắm tôm, 5% mắc bệnh tả. Câu thứ nhất đề cập đến hệ quả (bệnh tả) đã xảy ra và truy tìm về quá khứ phơi nhiễm (ăn mắm tôm). Câu thứ hai nói đến sự phơi nhiễm hôm nay để dự đoán về khả năng bệnh xảy ra trong tương lai. Hai phát biểu bao hàm thời gian tính khác nhau: câu thứ nhất nói về quá khứ và câu hai đề cập đến tương lai.

Trích từ Tuần Việt Nam

Mời bạn đọc cùng làm báo với Nguoiduatin.vn, viết tin bài, bày tỏ quan điểm về mọi mặt của cuộc sống gửi về hộp thư [email protected] .Tất cả thông điệp bạn quan tâm đều là tin tức

Video Cần biết xem nhiều

  • Video: Giáp mặt 'siêu trộm' U50 cuỗm điện thoại trong chớp mắt

    Video: Giáp mặt 'siêu trộm' U50 cuỗm điện thoại trong chớp mắt

  • Chở quá tải, đổ than xuống đường, chủ xe đe dọa lực lượng chức năng

    Chở quá tải, đổ than xuống đường, chủ xe đe dọa lực lượng chức năng

  • Video: Đánh sập đường dây vận chuyển cần sa lớn từ Lào về Việt Nam

    Video: Đánh sập đường dây vận chuyển cần sa lớn từ Lào về Việt Nam