'Vua' kim hoàn đất Hà Thành và nỗi niềm hồn nghề trên phố

19:15 28/01/2017

Nhắc đến làng nghề kim hoàn Định Công, người xưa vẫn có câu: “Làng anh rặt thợ kim hoàn/ Để anh đánh nhẫn cho nàng đeo tay”.

Sản phẩm kim hoàn của người Định Công từng nức tiếng đất Thăng Long và giờ chẳng còn mấy ai “sống với nghề”, chỉ còn sót lại nghệ nhân xưa đau đáu với niềm thương làng nghề dần mai một, hồn ở đâu bây giờ… 

Nghệ nhân kim hoàn và những hoài cổ về làng nghề xưa

Từ xa xưa, làng Định Công  (nay là phố Định Công Thượng, Hoàng Mai, Hà Nội) được biết đến là trung tâm chế tác vàng bạc lớn nhất đất Thăng Long với các tác phẩm tinh xảo. Theo sử sách, vào thời Lý Nam Đế (khoảng thế kỷ VI), ba anh em Trần Hòa, Trần Điện,Trần Điền đã mở cửa hàng vàng bạc tại làng Định Công, tạo ra những sản phẩm tinh xảo nức tiếng cả nước.

 Sau chiến tranh, người làng di tản đi nhiều nơi, nghề kim hoàn biến mất khỏi làng Định Công. Mãi tới đầu thập niên 1990, ông Quách Văn Trường và người cháu Quách Văn Hiểu mới khôi phục lại nghề truyền thống của gia đình. Hơn 20 năm qua, hai nghệ nhân kim hoàn vẫn miệt mài giữ lửa nghề và đau đáu tìm cách phát triển nghề đậu bạc truyền thống đã bị mai một.

Xã hội - 'Vua' kim hoàn đất Hà Thành và nỗi niềm hồn nghề trên phố

 Anh Quách Tuấn Anh nối nghiệp cha bằng niềm đam mê nghề tổ đã “ăn vào máu”.

Theo tìm hiểu của Pv, thời xưa, những đồ vàng bạc do người làng Định công làm ra rất tinh xảo, nổi tiếng đất kinh kỳ. Sau khi học được nghề kim hoàn do ba cụ tổ họ Trần truyền dạy, dân làng Định Công kéo nhau ra phường Đông Các (nay là phố hàng Bạc) để hành nghề. Lúc bấy giờ, phố hàng Bạc cũng là nơi tụ hội của thợ bạc Đồng Sâm (Thái Bình) và thợ bạc Châu Khê (Hưng Yên). Thợ kim hoàn Định Công đến đây, ai có vốn thì mở cửa hiệu bán đồ vàng bạc cho những nhà quyền quý, giàu có, không có vốn đi làm thuê cho các cửa hàng.

Nhờ học được nghề tổ, thợ kim hoàn Định Công nổi tiếng khéo tay, tài hoa và có nhiều “lương công” (thợ giỏi). Sự xuất hiện của nghề kim hoàn Định Công góp phần biến phố hàng Bạc trở thành trung tâm vàng bạc mỹ nghệ của cả nước.

Nhớ công ơn tổ nghề, những người thợ Định Công đã quyên góp xây dựng đền thờ tổ tại số nhà 51, phố hàng Bạc. Hàng năm, cứ vào 12/2 âm lịch, những người thợ kim hoàn Định Công ở mọi miền lại tụ họp về đền thờ tổ thắp nén hương thơm thành kính dâng tổ nghề.

 Ngày trước các họ nghề Mai, Lê, Quách, Trần, Nguyễn… theo nghề đều ở thôn Thượng. Họ Quách chuyên về đậu bạc, họ Trần, Mai chuyên làm vàng. Thế nhưng hiện nay, người làng đúng nghĩa “sống vì nghề, chết vì nghiệp đậu bạc”, vẫn duy trì tổ chức sản xuất suốt thời gian qua chỉ có gia đình nghệ nhân Quách Văn Trường.

Gia đình ông Trường đã có 4 thế hệ theo nghề đậu bạc và chứng kiến bao giai đoạn thăng trầm của nghề. Thời kỳ bao cấp, nguyên liệu quý là vàng bạc do Nhà nước quản lý nên dân làng phải thay thế bằng nguyên liệu đồng, lấy từ những chiếc công tơ, quạt cháy… Ngày đó, cả làng chủ yếu là làm gia công. Thời gian đầu mở cửa giao thương, vì thiếu nguyên liệu, thị trường tiêu thụ khó khăn nhiều người phải ngậm ngùi bỏ nghề.

Theo nghệ nhân này, người làm nghề phải nắm chắc 4 kỹ thuật cơ bản: trơn, đấu, đậu, chạm. Sản phẩm đậu bạc đạt yêu cầu phải đậu đều tay; hàn luột, không đọng vảy và các chi tiết hài hòa, cân xứng. Mỗi một sản phẩm quả là một tác phẩm nghệ thuật khắt khe về kỹ thuật nhưng lại tinh tuý ở giá trị thẩm mỹ và sử dụng.

Có hai bằng đại học vẫn theo nghề thợ bạc gia truyền

Với những tâm huyết mà nghệ nhân Quách Văn Trường dành cho nghề tổ, con trai út Quách Tuấn Anh của ông dù tốt nghiệp khoa Luật và Quản trị Kinh doanh Đại học Kinh tế Quốc dân vẫn quyết định theo nghề làm đồ bạc gia truyền.

Trò chuyên với PV, Tuấn Anh bộc bạch, tốt nghiệp hai đại học nhưng khi nhìn thấy nghề truyền thống đang dần mai một và có nguy cơ biến mất, anh nghĩ mình cần có trách nhiệm bảo tồn. Dẫu biết thu nhập thấp, công việc bấp bênh nhưng chính sự sáng tạo và lòng yêu nghề đã giúp anh cùng những người thợ khác trụ lại.

Tuấn Anh cho biết, anh đã nhiều lần kêu gọi thanh niên theo học nghề tuy nhiên điều anh nhận lại chỉ là những cái lắc đầu, thậm chí nhiều người còn cho rằng anh bị gàn dở. Tuấn Anh trầm tư nói: “Sản phẩm đậu bạc được ít người biết đến, không thể sản xuất hàng loạt. Thời kỳ đầu công việc không có, nhiều người phải bỏ nghề. Để sống bằng nghề cần phải tạo ra các tác phẩm độc đáo, khác biệt. Người thợ kim hoàn bây giờ, ngoài đôi bàn tay còn cần khả năng nắm bắt thị hiếu, kinh doanh mới có thể tồn tại”.

Xã hội - 'Vua' kim hoàn đất Hà Thành và nỗi niềm hồn nghề trên phố (Hình 2).

 Nghề kim hoàn: còn mấy ai giữ nghề?

          Chia sẻ về nghề gia truyền, Tuấn Anh cho hay, khác với trơn bạc hay chạm bạc, đậu bạc không dùng khuôn mà làm thủ công ở tất cả các khâu. Vì thế, một sản phẩm cùng mẫu mã nhưng lại có đường nét, chi tiết khác nhau. Người thợ kim hoàn Định Công có thế mạnh đậu nức tiếng khắp vùng. Quy trình đậu bạc truyền thống trải qua nhiều giai đoạn như nấu, cán, kéo, se, ghép... Một người thợ phải mất 7-8 năm theo nghề mới làm thành thạo, tự hoàn thiện tất cả các công đoạn.

Khi nói về nghề mà mình đã đeo bám hơn chục năm qua, Tuấn Anh cho hay, cha anh- nghệ nhân Quách Văn Trường chính là người thầy của anh. Thời gian đầu mới học việc rất vất vả, anh làm hỏng nhiều, có lúc nản muốn bỏ dở giữa chừng. Thế rồi, càng làm cái “máu kim hoàn” nó lại càng ngấm vào anh và anh say nghề đến quên ăn quên ngủ.

Tuấn Anh bộc bạch: “Bố tôi vẫn luôn răn dạy, đối với bất cứ nghề thủ công nào, người thợ cũng cần có đôi tay tài hoa, khéo léo, óc sáng tạo và nết làm ăn cần cù, chịu thương chịu khó. Nhưng riêng nghề kim hoàn còn đòi hỏi người thợ phải sống có đức, phải giữ chữ tín với mọi người. Vàng bạc là thứ kim loại quý, không phải ai cũng có vì thế người thợ không thể tráo chác trong nghề hay mua bán trao tay, mà phải chịu trách nhiệm mãi với những sản phẩm mình làm ra”.

N.G

 

Bạn đang đọc bài viết 'Vua' kim hoàn đất Hà Thành và nỗi niềm hồn nghề trên phố tại chuyên mục Xã hội của báo điện tử Người Đưa Tin. Mọi thông tin góp ý, chia sẻ xin vui lòng gửi về hòm thư toasoan@nguoiduatin.vn.

Cùng chuyên mục