Trong lịch sử khoa cử nước nhà, kể từ khoa thi đầu tiên dưới triều Lý năm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn năm 1919, Việt Nam có 2.898 người đỗ đại khoa. Họ là lớp trí thức tinh hoa, những bậc hiền tài từng được tôn vinh là “nguyên khí của quốc gia”, góp phần làm nên truyền thống văn hiến, thi thư của dân tộc qua nhiều thế kỷ.
Đằng sau những tên tuổi được khắc ghi trên bia đá Văn Miếu hay lưu danh trong sử sách, phần nhiều là những nếp nhà trọng học, những gia đình coi việc dùi mài kinh sử, tu dưỡng nhân cách và lập thân bằng học vấn là giá trị cốt lõi. Chính từ nền tảng ấy đã hình thành một hiện tượng đặc sắc trong lịch sử giáo dục Việt Nam: các “gia đình khoa bảng”, “dòng họ khoa bảng”. Không ít dòng họ nhiều đời liên tiếp có người đỗ đạt; có gia đình cha con, anh em, chú cháu, ông cháu cùng ghi danh bảng vàng, để lại những câu chuyện vừa đáng tự hào, vừa có ý nghĩa sâu xa về vai trò của gia đình, dòng họ trong việc bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Trong số những dòng họ khoa bảng tiêu biểu của vùng Kinh Bắc – Thăng Long xưa, dòng họ của Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực ở làng Vân Điềm, Du Lâm nổi lên như một trường hợp đặc biệt. Từ một tấm gương lớn của thế kỷ XVI, truyền thống hiếu học ấy không dừng lại ở vinh quang của một cá nhân, mà được kế tục qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên một mạch nguồn văn hóa bền bỉ của quê hương.
Làng Vân Điềm, tên Nôm là Kẻ Đóm, nay thuộc xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Trong tiến trình lịch sử, vùng đất này gắn bó mật thiết với huyện Đông Ngàn, một không gian văn hóa Nho học phát đạt thuộc loại nổi bật của xứ Kinh Bắc. Phương ngôn xưa từng đúc kết: “Tương Vân Cầu, bầu Đông Lữ, chữ Đông Ngàn”. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhận xét về vùng Đông Ngàn: “Mạch đất tốt tụ vào đấy, nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, tinh hoa họp vào đấy, nên sinh ra nhiều danh thần”.
Theo truyền ngôn dân gian trong vùng, từ đầu thế kỷ XV, khu vực làng và đồng Vân Điềm hiện nay đã hình thành bốn cụm dân cư: làng Nùi, xóm Vó Bè, làng Đóm và xóm Ba Điểm. Về sau, bốn cụm dân cư này hội cư thành một làng lớn hơn, có tên trong sổ hành chính là thôn Nội Điểm, thuộc xã Hà Lỗ, rồi đổi thành Vân Điềm và được biệt lập thành xã riêng. Trong làng xưa chỉ có một dòng họ Lê, còn hầu hết các dòng họ khác đều mang họ Nguyễn.
Trong số những dòng họ có mặt sớm tại làng, họ Nguyễn Đại tôn được gia phả và truyền ngôn địa phương ghi nhận là có nguồn gốc từ họ Lý, gắn với nhánh hậu duệ của Lý Quang Bật và Lý Long Tường. Sau biến động triều đại, con cháu lưu tán nhiều nơi rồi về Vân Điềm lập nghiệp. Dù cần tiếp tục đối chiếu thêm các nguồn gia phả, văn bia và tư liệu Hán Nôm, truyền thuyết về nguồn gốc ấy cho thấy ý thức sâu sắc của dòng họ về cội nguồn, gia phong và trách nhiệm nối tiếp tiền nhân.
“Vân Điềm đất của xương phiền
Cha con sánh bước hoè hiên chen bầy.”
Trích Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự.
Cuối thế kỷ XVI, từ mảnh đất Vân Điềm, danh sĩ Nguyễn Thực xuất hiện như người mở đầu rực rỡ cho truyền thống khoa bảng của dòng họ. Ông thuộc đời thứ năm của họ Nguyễn ở làng Vân Điềm, sinh năm 1555 trong bối cảnh đất nước nhiều biến động. Đó là thời kỳ Nam – Bắc triều phân tranh, xã hội chưa yên ổn, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, việc theo đuổi con đường học vấn không chỉ đòi hỏi tư chất, mà còn cần ý chí, nghị lực và khát vọng lập thân lớn lao.
Tương truyền từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Thực đã nổi tiếng thông minh, ham học và có tư chất hơn người. Trong điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn, ông vẫn miệt mài đèn sách, coi việc học là con đường tu thân, lập nghiệp và giúp đời. Năm 1595, ở tuổi 40, Nguyễn Thực dự khoa thi Ất Mùi đời vua Lê Thế Tông, đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng giáp. Từ đây, tên tuổi ông gắn với một trong những mốc son quan trọng của truyền thống khoa bảng Vân Điềm.
Sau khi đỗ đạt, Đình Nguyên, Hoàng Giáp Nguyễn Thực trải qua gần bốn thập niên phụng sự triều đình vua Lê Trung hưng, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, ông lần lượt được giao giữ các chức vụ ở Bộ Lễ, Bộ Hình, Hàn lâm viện và Đông các. Năm 1606, ông được cử đi sứ nhà Minh, góp phần thực hiện nhiệm vụ bang giao của triều đình. Trong quá trình làm quan, ông nhiều lần được thăng chức, từ Thị lang, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lễ đến Đông các Đại học sĩ, đồng thời được ban các tước vị cao quý như Khánh Xuyên bá, Lan Quận công.
Ở giai đoạn cuối sự nghiệp, ông được triều đình phong tới những phẩm hàm cao của hàng đại thần như Thái phó, Thái úy, Quốc lão, Thái bảo và đặc cách phong Thượng trụ quốc. Năm 1634, ông giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, hàm Thái phó trước khi xin về trí sĩ. Ông qua đời năm 1637, hưởng thọ 82 tuổi; triều đình để tang ba ngày, truy tặng chức Thái tể và ban tên thụy là Trung Thuần. Dân làng Hương Mặc tôn ông làm Thành hoàng làng, còn dân làng Vân Điềm lập bia ghi lệ thờ cúng.
Sự nghiệp quan trường của danh sĩ Nguyễn Thực được đánh giá cao không chỉ bởi chức vị mà ông từng đảm nhiệm, mà còn bởi nhân cách của một bậc đại thần thanh liêm, cẩn trọng và giữ khí tiết. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú chép rằng ông “thuần hậu trong sạch, cẩn thận, không lập sản nghiệp, làm quan trải qua những bước vinh hiển trọng yếu mà vẫn thanh bạch, có phong độ như bậc danh thần đời xưa”. Nhà bác học lớn của Việt Nam thời phong kiến Lê Quý Đôn cũng nhận xét ông là người “dùng đức độ danh vọng mà trấn phục người trong nước, thanh liêm, sẻn nhặt, giữ gìn, mộc mạc, điềm đạm, thích lễ nghi, ở trên triều đường kính cẩn như không dám nói”.
Ở Đình Nguyên, Hoàng Giáp Nguyễn Thực hội tụ những phẩm chất tiêu biểu của một nhà nho chân chính: học để tu thân, học để hành đạo, học để giúp dân, giúp nước và hoàn thiện nhân cách. Vì vậy, di sản lớn nhất ông để lại cho dòng họ không chỉ là khoa danh hay chức tước, mà là một mẫu mực sống động về đạo học và đạo làm quan. Từ tấm gương ấy, việc học trong dòng họ Nguyễn Vân Điềm được nâng lên thành một giá trị gia phong, một con đường để khẳng định nhân cách và đóng góp cho xã hội.
Con trai trưởng của Đình Nguyên, Hoàng Giáp Nguyễn Thực là danh sĩ Nguyễn Nghi về sau cũng trở thành một danh thần nổi tiếng của triều Lê. Ông được đánh giá là người nghiêm nghị, phong độ đoan trang, tính tình thuần cẩn, học vấn tinh sâu. Năm 32 tuổi, Nguyễn Nghi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Hoằng Định thứ 20 (1619), đời vua Lê Kính Tông. Năm Đức Long thứ 2 (1630), ông được cử đi sứ sang nhà Minh; sau đó làm quan trải các chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, Lại bộ Thượng thư, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, Thiếu phó, tước Dương Quận công; khi mất được truy tặng Thái phó.
Sách Lê Quý Đôn toàn tập nhận xét: “Nguyễn Thực, Nguyễn Nghi là hai cha con đồng thời làm Thượng thư, được phong tước Quận công, đứng đầu các quan, thực là hiếm có”. Lời đánh giá ấy không chỉ ghi nhận vinh hiển của một gia đình, mà còn cho thấy sự hình thành rất sớm của một nếp nhà khoa bảng, nơi tài năng, đạo đức và trách nhiệm phụng sự được truyền nối qua nhiều thế hệ.
Từ dấu mốc Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực đăng khoa năm 1595, truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa đã được định hình và bền bỉ lưu truyền trong dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm. Thành công của ông không chỉ đem lại vinh hiển cho cá nhân và gia tộc, mà còn trở thành một tấm gương, một động lực thôi thúc các thế hệ con cháu tiếp bước trên con đường học vấn. Từ nền tảng ấy, nhiều hậu duệ của dòng họ đã nối tiếp nhau đỗ đạt, trở thành danh thần, nhà giáo, nhà văn hóa có nhiều đóng góp cho đất nước.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Lê Xuân Kiêu - Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, cho biết trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, dòng họ Nguyễn Đại tôn của Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực có tới 8 vị tiến sĩ, trong đó 6 vị được khắc tên trên 5 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Đây là một thành tích đặc biệt, phản ánh sức sống bền bỉ của một truyền thống hiếu học được vun đắp qua nhiều đời.
Cụ thể, Nguyễn Thực đỗ Đình nguyên, Hoàng giáp khoa Ất Mùi năm 1595; Nguyễn Nghi đỗ Đồng tiến sĩ khoa Kỷ Mùi năm 1619; Nguyễn Khuê và Nguyễn Sĩ, hai anh em cùng đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất năm 1670; Nguyễn Thẩm đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất năm 1706; Nguyễn Thưởng đỗ tiến sĩ khoa Giáp Tuất năm 1754. Mỗi khoa danh là một dấu mốc riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau, các dấu mốc ấy tạo thành một dòng chảy liên tục, cho thấy truyền thống học hành không chỉ là niềm tự hào nhất thời mà đã trở thành nền nếp của cả dòng họ.
Từ cuối thế kỷ XVIII, do những biến động của thời cuộc, một nhánh con cháu họ Nguyễn làng Vân Điềm chuyển về làng Du Lâm, nay thuộc xã Đông Anh, thành phố Hà Nội, rồi trở thành chi lớn của một dòng họ lớn. Tại Du Lâm, truyền thống khoa bảng không bị đứt đoạn mà tiếp tục được duy trì. Nguyễn Án đỗ Hương cống khoa thi Hương đầu tiên của nhà Nguyễn năm 1807; Nguyễn Tư Giản đỗ Hoàng giáp khoa Giáp Thìn năm 1844; Nguyễn Kham đỗ tiến sĩ khoa Tân Mùi năm 1871. Cùng với đó là một loạt ông Nghè, ông Cống, ông Cử thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau.
Đặc biệt, trong mạch kế thừa ấy, danh sĩ Nguyễn Tư Giản là một gương mặt tiêu biểu của chi họ Nguyễn ở Du Lâm. Ông không chỉ nối tiếp truyền thống khoa bảng của tổ tiên, mà còn để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực: chính trị, giáo dục, văn hóa và quản trị xã hội dưới triều Nguyễn. Từ Vân Điềm đến Du Lâm, từ Nguyễn Thực đến Nguyễn Tư Giản, có thể thấy truyền thống hiếu học của dòng họ không đứng yên trong ký ức, mà luôn được thích ứng, tiếp nối và chuyển hóa qua từng thời đại.
Theo TS. Lê Xuân Kiêu, từ thời Lê Trung hưng đến triều Nguyễn, các vị khoa bảng của dòng họ Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực không chỉ đóng góp trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, mà còn để lại dấu ấn sâu đậm trong giáo dục – đào tạo. Riêng với Văn Miếu – Quốc Tử Giám, dòng họ có hai người từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, có thể hiểu là chức danh đứng đầu cơ sở giáo dục cao nhất của triều đình thời quân chủ. Một số người từng tham gia tổ chức các kỳ thi Hương, thi Hội; Nguyễn Thực từng giữ chức Giám thí thi Hội các năm 1610, 1613 và Tri Cống cử các năm 1619, 1631; Nguyễn Nghi ba lần giữ chức Tri Cống cử thi Hội vào các năm 1643, 1646 và 1650.
Không chỉ làm quan trong triều, nhiều người trong dòng họ còn trực tiếp mở lớp dạy học tại địa phương. Các danh sĩ Nguyễn Thực, Nguyễn Sùng, Nguyễn Thẩm, Nguyễn Thưởng đều từng tham gia giảng dạy, đào tạo nhiều học trò thành đạt, góp phần thúc đẩy phong trào học tập trong vùng. Đặc biệt, tư tưởng răn dạy, hối thúc đời sau tiến bộ, khuyến khích môn đồ học tập để trở thành những người có ích đã góp phần hình thành truyền thống “kế thế đăng khoa” của dòng họ qua nhiều thế hệ. Bởi vậy, dòng họ được ca ngợi là “nối đời đăng khoa, đời hưởng lộc, đời danh vọng vẻ vang”.
Tên tuổi, quê quán và thứ hạng đỗ đạt của các vị khoa bảng họ Nguyễn hiện còn được lưu danh trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn Miếu Huế, Văn Miếu Bắc Ninh, cùng nhiều văn bia, gia phả và di tích liên quan tại Vân Điềm, Du Lâm. Những tư liệu ấy không chỉ ghi lại vinh quang của một dòng họ, mà còn phản ánh truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài của vùng Kinh Bắc, đồng thời cho thấy vai trò của các dòng họ khoa bảng trong lịch sử giáo dục Việt Nam thời quân chủ.
Theo PGS.TS. Bùi Xuân Đính - Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ở vùng châu thổ Bắc Bộ không có nhiều dòng họ có được bề dày truyền thống khoa bảng như họ Nguyễn Vân Điềm, Du Lâm. Để có được truyền thống quý báu ấy, trước hết phải kể đến yếu tố địa phương. Vân Điềm – Du Lâm thuộc vùng Kinh Bắc, một không gian nổi tiếng về truyền thống hiếu học và có số lượng người đỗ đạt cao. Môi trường văn hóa, giáo dục phát triển cùng truyền thống khoa cử lâu đời đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành, nuôi dưỡng nhân tài.
Bên cạnh đó, các dòng họ ở Vân Điềm – Du Lâm đã xây dựng được mạng lưới quan hệ chính trị, xã hội và huyết thống rộng lớn thông qua hôn nhân với nhiều gia đình có vị thế xã hội và học vấn cao. Những mối quan hệ này không chỉ mở rộng cơ hội học tập, thi cử, mà còn tạo nền tảng thuận lợi cho sự phát triển của các thế hệ sau. Gia phả họ Nguyễn ghi nhận nhiều trường hợp kết thông gia với các gia đình khoa bảng, quan lại, góp phần củng cố vị thế và truyền thống hiếu học của dòng họ.
Một nhân tố khác là vai trò của người thầy và của chính gia đình. Các thầy giáo tận tâm, coi sự thành đạt của học trò là niềm vinh dự, đã trực tiếp dìu dắt nhiều nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Thực, Nguyễn Tư Giản. Trong mỗi gia đình, cha mẹ, anh em không chỉ nêu gương về tinh thần học tập, mà còn tạo điều kiện vật chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hội để con cháu phát triển. Nhờ sự kết hợp giữa truyền thống địa phương, gia phong dòng họ, nếp nhà, thầy học và môi trường xã hội, Vân Điềm – Du Lâm đã hình thành và duy trì bền vững một truyền thống hiếu học, khoa bảng qua nhiều thế kỷ.
Hơn bốn thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực làm rạng danh quê hương Vân Điềm trên bảng vàng khoa cử. Các triều đại phong kiến đã lùi xa, nền giáo dục Nho học cũng không còn hiện diện trong đời sống đương đại, nhưng điều đáng quý là tinh thần hiếu học mà các bậc tiền nhân gây dựng vẫn được gìn giữ và tiếp nối trong từng gia đình, từng thế hệ con cháu của dòng họ Nguyễn.
Trong không gian trầm mặc của từ đường dòng họ tại làng Vân Điềm, những tấm hoành phi, câu đối và gia phả cổ vẫn kể lại câu chuyện về một dòng họ nhiều đời khoa bảng. Nhưng giá trị lớn nhất có lẽ không chỉ nằm ở những hiện vật còn lưu giữ, mà ở cách các thế hệ hôm nay tiếp tục gìn giữ ký ức, biến truyền thống thành động lực sống, học tập và cống hiến.
Ông Nguyễn Chung - Trưởng dòng họ Nguyễn Đại tộc, cho biết trải qua nhiều biến động của lịch sử, dòng họ luôn xác định việc học là giá trị cốt lõi cần được bảo tồn. Trong các cuộc họp họ, bên cạnh việc tưởng nhớ tổ tiên, nội dung được quan tâm đặc biệt luôn là công tác khuyến học, khuyến tài và giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống của gia tộc.
Theo ông Chung, từ nhiều năm nay, dòng họ đã xây dựng quỹ khuyến học riêng nhằm động viên con cháu có thành tích tốt trong học tập, đồng thời hỗ trợ những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn. Hằng năm, vào dịp giỗ tổ hoặc các cuộc gặp mặt của dòng họ, những học sinh, sinh viên đạt thành tích xuất sắc đều được vinh danh, khen thưởng trước toàn thể con cháu. Những việc làm ấy tuy giản dị, nhưng có ý nghĩa bền lâu, bởi chúng giúp truyền thống không chỉ được nhắc lại bằng lời, mà được nuôi dưỡng bằng hành động cụ thể.
“Các cụ ngày xưa dạy rằng tài sản lớn nhất để lại cho con cháu không phải ruộng đất hay của cải, mà là tri thức và đạo đức. Chúng tôi luôn cố gắng giữ gìn tinh thần ấy. Điều quan trọng không phải là con cháu làm nghề gì, giữ chức vụ gì, mà là phải chăm học, sống tử tế và có ích cho xã hội”, ông Nguyễn Chung chia sẻ.
Cũng từ nền tảng ấy, trong dòng họ hôm nay tiếp tục xuất hiện nhiều người con thành đạt trên các lĩnh vực khác nhau. Người trở thành nhà khoa học, người công tác trong các cơ quan nhà nước, giáo dục, y tế, kinh doanh hoặc các lĩnh vực nghề nghiệp mới của xã hội hiện đại. Dù lựa chọn những con đường khác nhau, họ đều có chung niềm tự hào về truyền thống gia tộc và ý thức gìn giữ danh tiếng mà các thế hệ tiền nhân đã gây dựng.
PGS.TS. Nguyễn Anh Cường, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, hậu duệ đời 14 của dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, cho biết truyền thống ấy trước hết được nuôi dưỡng từ chính nếp nhà. Thuở nhỏ, ông chưa thực sự ý thức hết chiều sâu lịch sử của dòng họ, nhưng những lời răn dạy của cha mẹ về việc học đã thấm dần theo năm tháng. Trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, khi không ít gia đình phải lo chuyện mưu sinh trước mắt nên cho con bỏ học sớm để đi làm, thì cha ông vẫn luôn nhắc các con phải cố gắng vượt khó để tiếp tục học, học để thành người.
“Có lẽ đạo học ấy đã được tích tụ từ rất lâu trong truyền thống dòng họ. Khi còn nhỏ, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của điều đó. Nhưng càng trưởng thành, càng tìm hiểu về lịch sử gia tộc và cuộc đời Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực, tôi càng cảm nhận sâu sắc giá trị mà các thế hệ đi trước để lại”, ông Cường chia sẻ.
Theo ông, sức sống bền bỉ của truyền thống hiếu học không chỉ đến từ sự giáo dục trong mỗi gia đình, mà còn từ ý thức gìn giữ gia phong của cả dòng họ. Những người thành danh luôn được ghi nhận; những tấm gương học tập được nhắc nhớ, lưu truyền; những thành tích mới của con cháu được động viên kịp thời. Chính sự tiếp nối ấy giúp ngọn lửa hiếu học được duy trì qua nhiều thế kỷ, không đứt đoạn trong những biến thiên của lịch sử.
Nghĩ về di sản của tổ tiên, PGS.TS. Nguyễn Anh Cường cho rằng giá trị cốt lõi mà các bậc tiền nhân truyền lại không phải là chức tước hay danh vị, mà là tinh thần học để làm người, học để phụng sự và sống có trách nhiệm với cộng đồng. Đó cũng là sợi dây vô hình kết nối các thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn từ thời Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực đến hôm nay.
“Chúng tôi luôn ý thức rằng thế hệ hôm nay không phải là điểm kết thúc của truyền thống, mà là cầu nối giữa quá khứ và tương lai. Trách nhiệm của chúng tôi là gìn giữ và truyền trao những giá trị tốt đẹp của dòng họ cho lớp trẻ, để tinh thần hiếu học, trọng tri thức và khát vọng cống hiến tiếp tục được nuôi dưỡng trong các thế hệ mai sau”, PGS.TS. Nguyễn Anh Cường cho biết.
Theo bà Đỗ Thị Hảo, Đảng ủy viên, Trưởng phòng Văn hóa – Xã hội xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội, giá trị lớn nhất mà dòng họ Nguyễn để lại cho quê hương không chỉ là một truyền thống khoa bảng vẻ vang với nhiều bậc hiền tài, mà còn là di sản văn hóa quý báu về tinh thần hiếu học, trọng tri thức và trọng dụng nhân tài.
Từ tấm gương của Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực và truyền thống khoa bảng của dòng họ Nguyễn, nhiều thế hệ người dân quê hương đã xem việc học là con đường lập thân, lập nghiệp và cống hiến cho đất nước. Truyền thống ấy góp phần khơi nguồn, bồi đắp nên một dòng chảy tri thức bền bỉ trong đời sống văn hóa của địa phương.
Trong lịch sử, nhiều người con của quê hương đã đỗ đạt cao trong các kỳ thi Nho học và được triều đình trọng dụng. Ngày nay, không ít người con của dòng họ Nguyễn cũng như của địa phương đang đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Dòng chảy học vấn vì thế không dừng lại ở quá khứ khoa bảng, mà tiếp tục hiện diện trong những đóng góp cụ thể cho cộng đồng hôm nay.
“Dòng họ Nguyễn không chỉ làm rạng danh vùng đất từng nổi tiếng khắp trấn Kinh Bắc xưa, mà còn góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của Thư Lâm hôm nay - một vùng đất giàu truyền thống hiếu học, nơi luôn coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài và phát triển con người. Đây cũng là một trong những ý nghĩa sâu sắc của tên gọi Thư Lâm - ‘Rừng sách’, biểu tượng cho khát vọng học tập, cho truyền thống tôn vinh tri thức và nuôi dưỡng hiền tài của quê hương qua nhiều thế hệ”, bà Đỗ Thị Hảo chia sẻ.
Từ một gia phong trọng học, dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, Du Lâm đã hình thành nên một truyền thống hiếu học, trọng hiền tài bền bỉ qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy không chỉ được lưu giữ trong gia phả, bia đá, từ đường hay những câu chuyện về các bậc khoa bảng, mà còn được tiếp nối bằng ý thức học tập, tinh thần vươn lên và trách nhiệm của mỗi thế hệ con cháu.
Trong bối cảnh hôm nay, khi con đường lập thân không còn chỉ gắn với khoa cử Nho học như trước, truyền thống ấy vẫn giữ nguyên ý nghĩa cốt lõi: coi tri thức là nền tảng để làm người, coi đạo đức là gốc của sự thành đạt, coi sự cống hiến cho cộng đồng là thước đo của danh dự gia đình và dòng họ. Chính vì vậy, di sản mà Đình nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Thực và các thế hệ tiền nhân để lại không chỉ thuộc về quá khứ, mà vẫn đang sống trong hiện tại, tiếp tục soi sáng hành trình của những thế hệ mai sau.
Hơn bốn thế kỷ đã đi qua, nhưng ngọn lửa hiếu học của dòng họ Nguyễn Vân Điềm, Du Lâm vẫn chưa bao giờ tắt. Nó âm thầm cháy trong nếp nhà, trong lời dạy của cha ông, trong những mùa khuyến học, trong niềm tự hào của con cháu và trong khát vọng xây dựng quê hương Thư Lâm thành một vùng đất xứng đáng với tên gọi “Rừng sách” - nơi truyền thống tôn vinh tri thức tiếp tục được bồi đắp, gìn giữ và trao truyền.