Theo PGS.TS Nguyễn Thị Báo – nguyên Chánh Thanh tra, Giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, điểm mới của Chỉ thị không chỉ nằm ở việc bổ sung nội dung "phương pháp" và "thực hành", mà còn nhấn mạnh tư duy học tập để hành động, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh.
Người Đưa Tin (NĐT): Thưa bà, sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 05, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 07 với nhiều điểm mới. Theo bà, vì sao một chỉ thị mới lại cần thiết vào thời điểm này?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW không đơn thuần là tổng kết, kế thừa Chỉ thị số 05 sau 10 năm triển khai, mà phản ánh yêu cầu tất yếu của một giai đoạn phát triển mới, khi việc học Bác phải đi vào chiều sâu thực hành, vào hiệu quả thực thi công vụ và vào kết quả phục vụ Nhân dân.
Mười năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tạo sức lan tỏa trong xã hội. Tuy nhiên, Chỉ thị 07 cũng rất thẳng thắn chỉ ra những hạn chế: ở một số nơi, việc học tập còn hình thức, thiếu chiều sâu; chưa chú trọng đúng mức việc thực hành, vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh; trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chưa gắn chặt với giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân.
Điều đáng chú ý là bối cảnh phát triển của đất nước hôm nay đã khác rất xa so với năm 2016. Chúng ta đang đứng trước yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế sâu rộng. Những nhiệm vụ ấy đòi hỏi đội ngũ cán bộ không chỉ “đúng” về phẩm chất, mà còn phải “trúng” về phương pháp, “mạnh” về năng lực hành động và “rõ” về trách nhiệm trước công việc được giao.
Vì vậy, điểm nhấn của Chỉ thị 07 là chuyển mạnh từ việc coi học tập và làm theo Bác như một nội dung sinh hoạt chính trị định kỳ sang việc biến tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh thành phương thức làm việc hằng ngày. Giá trị của việc học Bác không nằm ở số buổi học, số chuyên đề hay số bản cam kết, mà được đo bằng hiệu quả công việc, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và những chuyển biến cụ thể trong từng cơ quan, địa phương.
NĐT: Một thay đổi rất đáng chú ý là Chỉ thị 07 chuyển từ yêu cầu “học tập và làm theo” sang “học tập, thực hành”. Theo bà, chỉ khác một chữ nhưng tư duy có thay đổi không? “Thực hành” khác “làm theo” ở điểm nào?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Tôi cho rằng đây không phải là sự thay đổi về câu chữ, mà là sự thay đổi về trọng tâm tư duy. Trước đây, khi nói đến “làm theo”, nhiều người thường hiểu theo nghĩa học một tấm gương, một việc làm cụ thể rồi cố gắng noi theo. Cách hiểu đó không sai, nhưng nếu dừng lại ở đó thì dễ dẫn đến việc noi theo từng hành động riêng lẻ, trong khi điều cốt lõi Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại không chỉ là những việc Người đã làm, mà còn là cách Người suy nghĩ, cách Người giải quyết vấn đề và cách Người làm việc.
Chỉ thị 07 bổ sung và nhấn mạnh hai nội dung rất quan trọng: “phương pháp” và “thực hành”. “Thực hành” không chỉ là làm nhiều hơn, mà là chuyển hóa những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh thành năng lực hành động trong công việc hằng ngày. Đó là đưa tư tưởng của Bác vào từng quyết định quản lý, từng cách ứng xử với đồng nghiệp, với người dân và từng việc cụ thể đang được giao xử lý.
Ví dụ, học Bác không phải chỉ là nói về cần, kiệm, liêm, chính. Khi tiếp nhận một vụ việc, người cán bộ phải điều tra kỹ, lắng nghe nhiều chiều, tôn trọng sự thật, không vội kết luận. Khi ban hành một chính sách, phải tự hỏi chính sách đó có xuất phát từ đời sống hay không, người dân có thực hiện được không, doanh nghiệp có giảm được chi phí tuân thủ hay không. Khi giải quyết công việc, phải đặt lợi ích của Nhân dân lên trước, không né tránh, không đùn đẩy, không sợ trách nhiệm. Đó mới là thực hành phương pháp Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Tôi đặc biệt tâm đắc với chữ “phương pháp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tư tưởng, đạo đức, phong cách, nhưng Người cũng là một nhà lãnh đạo có phương pháp làm việc rất khoa học: bắt đầu từ thực tiễn, coi trọng điều tra, khảo sát, lắng nghe nhiều phía trước khi quyết định; đề cao đối thoại, tranh luận trên tinh thần xây dựng; yêu cầu nói đi đôi với làm, đã hứa thì phải thực hiện. Đó đều là những giá trị quản trị rất hiện đại, không hề xa lạ với yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả hiện nay.
Theo tôi, trong giai đoạn phát triển mới, điều chúng ta cần học ở Bác không chỉ là sống như Bác, mà quan trọng hơn là làm việc như Bác: tư duy từ thực tiễn, hành động vì lợi ích chung, dám chịu trách nhiệm và lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo. Khi làm được như vậy, “học Bác” sẽ không còn là khẩu hiệu, mà trở thành văn hóa hành động.
NĐT: Trong Chỉ thị 07, Bộ Chính trị thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn tình trạng học tập hình thức, chưa chuyển từ nhận thức sang hành động, thậm chí còn biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Theo bà, vì sao sau nhiều năm chúng ta vẫn chưa khắc phục triệt để được những hạn chế đó?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Điều đáng ghi nhận là Chỉ thị 07 đã nhìn thẳng vào sự thật. Bộ Chính trị không chỉ tổng kết những kết quả đạt được, mà còn chỉ rõ những hạn chế như học tập còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động, trách nhiệm nêu gương có nơi chưa rõ, công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Đây là cách tiếp cận rất cần thiết: muốn đổi mới thực chất thì trước hết phải nhận diện đúng điểm nghẽn.
Tôi cho rằng nguyên nhân không phải vì chúng ta thiếu chuẩn mực đạo đức hay thiếu lời dạy của Bác. Những điều Bác Hồ dạy về đạo đức công vụ, về trách nhiệm của cán bộ đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vấn đề là ở chỗ, ở một số nơi, việc học tập mới dừng ở nhận thức, chưa chuyển hóa thành thói quen hành động và văn hóa thực thi công vụ.
Có một thực tế là nhiều cán bộ đều biết thế nào là đúng, thế nào là sai, nhưng khi đứng trước một công việc cụ thể lại chọn giải pháp an toàn cho bản thân. Sợ sai nên không dám quyết; sợ trách nhiệm nên đẩy việc lên cấp trên hoặc chuyển sang cơ quan khác. Dần dần, cái đáng sợ không chỉ là làm sai, mà là không ai dám làm, không ai dám chịu trách nhiệm để công việc đi đến cùng. Khi đó, người chịu thiệt cuối cùng chính là người dân và doanh nghiệp.
Một nguyên nhân nữa là có nơi việc học tập vẫn thiên về học cái Bác nói, nhưng chưa thật sự đi sâu vào học cách Bác làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bắt đầu từ thực tiễn, rất coi trọng điều tra, khảo sát, đối thoại với Nhân dân trước khi quyết định. Người yêu cầu cán bộ phải sâu sát cơ sở, dám chịu trách nhiệm và đặc biệt là nói đi đôi với làm. Nếu chỉ học những lời dạy mà không học phương pháp làm việc của Bác thì rất khó tạo ra chuyển biến thực tế.
Theo tôi, Chỉ thị 07 ra đời chính là để khắc phục điểm này. Việc bổ sung yêu cầu “thực hành phương pháp Hồ Chí Minh” cho thấy Bộ Chính trị muốn việc học Bác phải được đo bằng hiệu quả giải quyết công việc, bằng sự hài lòng của người dân, bằng chất lượng phục vụ và bằng kết quả phát triển của từng địa phương, từng cơ quan, chứ không phải bằng số lượng hội nghị, chuyên đề hay bản đăng ký làm theo.
Nói một cách ngắn gọn, nếu trước đây chúng ta quan tâm nhiều đến câu hỏi “học cái gì”, thì giai đoạn hiện nay phải trả lời rõ hơn câu hỏi “học để làm gì” và “làm như thế nào”. Chỉ khi việc học tập được chuyển hóa thành năng lực hành động, thành tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đổi mới vì lợi ích chung, Chỉ thị 07 mới thực sự đi vào cuộc sống.
NĐT: Trong bối cảnh đất nước đang thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc học và thực hành tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh cần được hiểu như thế nào để có thể trở thành tuyên ngôn hành động thực tiễn?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Đây là vấn đề rất đáng suy nghĩ. Có người cho rằng khi đất nước bước vào kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế số hay phát triển kinh tế tư nhân thì tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị của quá khứ. Tôi không nghĩ như vậy. Ngược lại, càng trong bối cảnh mới, chúng ta càng thấy rõ giá trị thời sự của tư tưởng và phương pháp Hồ Chí Minh.
Điều cốt lõi không phải là tìm trong các tác phẩm của Bác những câu trả lời trực tiếp cho công nghệ AI hay kinh tế số, bởi thời đại của Bác khác thời đại chúng ta. Điều cần học là phương pháp tư duy của Người: xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, không giáo điều, không máy móc và luôn tiếp thu những điều tiến bộ của nhân loại để phục vụ lợi ích dân tộc.
Bác từng nói: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Theo tôi, đây chính là tinh thần của đổi mới sáng tạo ngày nay. Mọi chủ trương, chính sách, mọi mô hình phát triển đều phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, bằng hiệu quả mang lại cho người dân và đất nước, không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu hay mục tiêu rất đẹp trên giấy.
Trong bối cảnh hiện nay, học và thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh có nghĩa là dám đổi mới nhưng không xa rời thực tiễn; dám quyết nhưng không chủ quan; khuyến khích sáng tạo nhưng luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và Nhân dân làm điểm đến cuối cùng. Đó cũng là tinh thần mà Chỉ thị 07 nhấn mạnh khi yêu cầu học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.
Ví dụ, khi thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, cải cách thủ tục hành chính hay chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, điều cần học ở Bác là cách nhìn vấn đề từ góc độ người dân và doanh nghiệp. Một chính sách tốt không phải là chính sách được viết rất hay, mà là chính sách giúp người dân dễ thực hiện hơn, doanh nghiệp giảm được chi phí hơn và bộ máy vận hành hiệu quả hơn. Đó chính là tinh thần “lấy dân làm gốc” trong điều kiện mới.
Tôi cũng cho rằng trong giai đoạn phát triển nhanh hiện nay, phẩm chất rất cần học ở Bác là tinh thần dám chịu trách nhiệm. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phụ trách việc gì thì làm cho kỳ được việc ấy, không đùn đẩy, không né tránh. Hôm nay, khi đất nước đặt ra những mục tiêu lớn về tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, điều cần nhất không chỉ là người cán bộ có đạo đức, mà còn phải có bản lĩnh hành động, dám quyết định trên cơ sở pháp luật, thực tiễn và vì lợi ích chung.
Vì vậy, học Bác không phải chỉ là nhìn về quá khứ, mà là tìm trong tư tưởng và phương pháp của Người những nguyên tắc để giải quyết các bài toán của hiện tại và tương lai. Đó cũng là ý nghĩa sâu sắc của Chỉ thị 07 trong giai đoạn phát triển mới.
NĐT: Như vậy có lẽ học Bác hôm nay không phải chỉ là học tư tưởng, phẩm chất, đạo đức mà quan trọng hơn là học cách nhìn vấn đề, cách lắng nghe dân và cách giải quyết công việc?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Tôi hoàn toàn đồng tình. Nếu đọc kỹ các tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy Người rất ít nói những điều cao siêu, xa rời đời sống. Điều Bác quan tâm trước hết là làm thế nào để giải quyết được công việc, giải quyết được những vấn đề của dân, của nước.
Câu nói “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” không chỉ là một chuẩn mực đạo đức, mà còn là một phương pháp ra quyết định. Trước mỗi chủ trương, mỗi chính sách hay mỗi quyết định quản lý, nếu người cán bộ đều tự hỏi việc này có thực sự mang lại lợi ích cho người dân không, có giải quyết được vấn đề của người dân không, thì rất nhiều bất cập sẽ được hạn chế ngay từ đầu.
Điều đáng học nhất ở Bác là phương pháp làm việc dựa trên thực tiễn. Bác không bao giờ quyết định chỉ dựa trên báo cáo hay cảm tính. Người luôn yêu cầu phải điều tra, khảo sát, đi đến tận nơi, nghe nhiều chiều, hiểu rõ tình hình rồi mới kết luận. Đó là phương pháp khoa học, khách quan và đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.
Một điểm nữa rất đáng suy ngẫm là Bác luôn đặt mình vào vị trí của người dân. Câu nói “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” cho thấy mọi chính sách muốn thành công đều phải xuất phát từ cuộc sống, từ nhu cầu của Nhân dân và phải được Nhân dân đồng tình, ủng hộ. Đây cũng chính là tư duy quản trị hiện đại: lấy người dân làm trung tâm, lấy niềm tin xã hội làm nền tảng và lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo.
Trong bối cảnh hiện nay, học Bác không chỉ là sống giản dị hay cần, kiệm, liêm, chính. Những phẩm chất đó luôn là nền tảng. Nhưng điều đất nước đang rất cần là học cách Bác tư duy và hành động: tôn trọng thực tiễn, lắng nghe ý kiến khác biệt, quyết đoán khi đã đủ căn cứ, dám chịu trách nhiệm trước quyết định của mình và luôn lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo.
Nếu mỗi cán bộ, đảng viên thực hành được phương pháp ấy trong công việc hằng ngày, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ không còn là những khẩu hiệu hay những đợt sinh hoạt chuyên đề, mà sẽ trở thành một phần của văn hóa công vụ và năng lực lãnh đạo. Đó là điều Chỉ thị 07 đang hướng tới: học Bác để làm việc tốt hơn, phục vụ tốt hơn và chịu trách nhiệm rõ hơn trước Nhân dân.
NĐT: Trong bối cảnh hiện nay, việc lan tỏa giá trị của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh đến thế hệ trẻ được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Theo bà, cần làm gì để những giá trị ấy được người trẻ đón nhận một cách tự nhiên, gần gũi và có sức lay động?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Chúng ta phải thừa nhận một thực tế rằng nhiều bạn trẻ hôm nay không thích những bài học nặng tính áp đặt hay những khẩu hiệu chung chung. Điều đó không có nghĩa là họ thờ ơ với những giá trị tốt đẹp, mà họ muốn được thuyết phục bằng sự chân thực, bằng trải nghiệm và bằng những điều có thể áp dụng vào cuộc sống của mình.
Theo tôi, vấn đề nằm ở chính cách chúng ta truyền tải. Nếu chỉ nói với người trẻ rằng "phải học Bác", "phải làm theo Bác" mà không trả lời được câu hỏi "học để làm gì, học cái gì và giúp ích gì cho cuộc sống hôm nay", thì rất khó tạo được sự đồng cảm.
Điều người trẻ cần không phải là những bài giảng chỉ nói về những phẩm chất rất lớn lao, mà là những câu chuyện cụ thể về cách Bác ứng xử với con người, cách Bác lắng nghe ý kiến khác biệt, cách Bác sử dụng thời gian, làm việc khoa học, tôn trọng sự thật, giữ lời hứa và chịu trách nhiệm trước quyết định của mình. Đó đều là những kỹ năng sống và kỹ năng lãnh đạo mà bất kỳ người trẻ nào cũng có thể học hỏi.
Trong thời đại mạng xã hội, việc học Bác càng cần đổi mới về cách tiếp cận. Thay vì chỉ tổ chức các đợt học tập theo hình thức truyền thống, cần tạo ra nhiều diễn đàn đối thoại để người trẻ được đặt câu hỏi, được tranh luận và được bày tỏ suy nghĩ của mình. Điều quan trọng nhất là giúp người trẻ nhận ra rằng học Bác không phải để trở thành một bản sao của Bác, mà để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Một sinh viên học Bác có thể là học tinh thần tự học. Một doanh nhân học Bác có thể là học chữ tín và trách nhiệm xã hội. Một bác sĩ học Bác có thể là học y đức và thái độ phục vụ người bệnh. Một cán bộ học Bác có thể là học cách gần dân, trọng dân và dám chịu trách nhiệm.
Khi tư tưởng Hồ Chí Minh được tiếp cận như những giá trị sống, những nguyên tắc hành động và những bài học về cách làm người, cách làm việc, chứ không chỉ là những nội dung phải ghi nhớ, thì việc học tập và thực hành sẽ trở nên gần gũi, tự nhiên và có sức sống trong thế hệ trẻ.
NĐT: Thời gian gần đây có một số nỗ lực kể lại những câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ trẻ trung, gần gũi hơn để tiếp cận thế hệ mới. Tuy nhiên, có lẽ đó vẫn là một việc không dễ. Theo bà, đâu là ranh giới giữa sáng tạo để đưa hình ảnh Bác đến gần hơn với công chúng và việc làm sai lệch, thậm chí gây phản cảm đối với các giá trị lịch sử?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Đây là câu hỏi rất đáng suy ngẫm, bởi nó không chỉ liên quan đến một sản phẩm cụ thể, mà đặt ra vấn đề lớn hơn: làm thế nào để truyền tải tư tưởng và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến các thế hệ hôm nay một cách sinh động, đồng thời vẫn giữ được sự chuẩn mực và tính chân thực của lịch sử.
Theo tôi, đổi mới cách tiếp cận là cần thiết, thậm chí là tất yếu. Mỗi thế hệ có cách tiếp nhận thông tin khác nhau. Nếu chúng ta chỉ lặp lại những cách tuyên truyền cũ, rất khó tạo được sự đồng cảm, nhất là với người trẻ. Việc sử dụng văn học, điện ảnh, nghệ thuật hay các hình thức truyền thông mới để kể những câu chuyện về Bác là điều nên khuyến khích.
Tuy nhiên, sáng tạo không có nghĩa là tùy tiện. Đối tượng được phản ánh là Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - nên mọi sáng tạo phải đặt trên nền tảng tôn trọng sự thật lịch sử. Có thể lựa chọn góc nhìn mới, cách kể mới, ngôn ngữ mới, nhưng không được làm thay đổi bản chất sự kiện, không hư cấu những chi tiết khiến công chúng hiểu sai về tư tưởng, cuộc đời và nhân cách của Người.
Ranh giới nằm ở hai chữ “trung thực”: trung thực với tư liệu, với bối cảnh lịch sử và với các giá trị cốt lõi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại. Khi giữ được nền tảng đó, sáng tạo sẽ giúp lịch sử trở nên gần gũi hơn. Nhưng nếu vì muốn gây chú ý mà làm mờ ranh giới giữa sự thật và hư cấu, hoặc sử dụng cách biểu đạt không phù hợp với bối cảnh lịch sử, thì rất dễ tạo ra tranh cãi không đáng có.
Suy cho cùng, mục tiêu của việc đổi mới cách tiếp cận không phải là tạo ra những cuộc tranh luận, mà là giúp các giá trị của Hồ Chí Minh được lan tỏa đúng đắn, tự nhiên và có sức sống trong xã hội hôm nay. Sáng tạo và chuẩn mực không đối lập; vấn đề là phải biết giữ điểm cân bằng giữa hai yếu tố ấy.
NĐT: Từ những tranh luận đó, theo bà, cần làm gì để vừa khuyến khích sáng tạo trong truyền thông về Hồ Chí Minh, vừa bảo đảm sự chuẩn mực, đúng đắn và có sức thuyết phục?
PGS.TS Nguyễn Thị Báo: Theo tôi, hướng đi bền vững là xây dựng một văn hóa tiếp cận lịch sử và các giá trị Hồ Chí Minh vừa cởi mở, vừa chuẩn mực. Không thể đưa tư tưởng Hồ Chí Minh đến gần giới trẻ bằng cách yêu cầu các em chỉ tiếp nhận một chiều hay chỉ ghi nhớ những điều đã có sẵn. Người trẻ hôm nay có nhu cầu đặt câu hỏi, tìm hiểu, đối thoại và khám phá. Đó là nhu cầu bình thường của một xã hội phát triển.
Nhưng ở chiều ngược lại, mọi đổi mới phải dựa trên nền tảng khoa học và trách nhiệm. Người sáng tạo cần ý thức rằng khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ không chỉ sáng tạo một tác phẩm, mà còn đang góp phần định hình nhận thức xã hội, đặc biệt là nhận thức của thế hệ trẻ. Vì vậy, mỗi chi tiết, mỗi cách diễn đạt đều cần được cân nhắc cẩn trọng, tôn trọng tư liệu, tôn trọng lịch sử và tôn trọng cảm xúc của cộng đồng.
Điều chúng ta cần hơn là một cơ chế đối thoại học thuật cởi mở. Khi xuất hiện một cách tiếp cận mới, việc cần làm trước tiên không phải là vội vàng ca ngợi hay phủ nhận, mà là cùng nhau trao đổi trên cơ sở khoa học, bằng chứng và thiện chí. Nhà nghiên cứu, nhà giáo, nhà sử học, người làm văn hóa, người làm truyền thông và công chúng cần có không gian để phản biện, góp ý, hoàn thiện sản phẩm trước khi những tranh luận bị đẩy thành xung đột trên mạng xã hội.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh không mâu thuẫn với tinh thần nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn hóa. Điều quan trọng là mọi sự sáng tạo phải hướng tới việc làm sáng rõ hơn những giá trị của Người, chứ không phải tạo ra sự tò mò bằng những cách diễn đạt gây tranh cãi.
Suy cho cùng, mục tiêu của chúng ta không phải là bảo vệ một hình thức kể chuyện nào, mà là làm cho tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục sống trong đời sống hôm nay. Nếu một người trẻ sau khi đọc một cuốn sách, xem một bộ phim hay tham gia một cuộc đối thoại mà hiểu Bác đúng hơn, yêu những giá trị Bác để lại hơn và có động lực sống tốt hơn, thì đó mới là thước đo thành công.
Đưa Hồ Chí Minh đến gần công chúng hôm nay phải bằng sự chân thực, chiều sâu tri thức và trách nhiệm văn hóa. Khi “học Bác” trở thành phương pháp sống, phương pháp làm việc và văn hóa hành động, Chỉ thị 07 sẽ có sức lan tỏa bền vững trong đời sống xã hội.
NĐT: Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi