Người Đưa Tin (NĐT): Thưa Thứ trưởng, dự báo tình hình kinh tế năm 2026 đặt ra nhiều thách thức, đâu là những ưu tiên lớn nhất của Bộ Tài chính nhằm mở rộng cơ sở thu, nuôi dưỡng nguồn thu bền vững, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi - phát triển trong trung và dài hạn là gì?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV. Kinh tế trong nước đứng trước nhiều thách thức từ áp lực lạm phát, biến động địa chính trị thế giới và các rào cản thương mại mới, tuy nhiên vẫn có cơ hội từ sự phục hồi mạnh mẽ của dòng vốn FDI, tiến trình chuyển đổi số quốc gia và các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới bắt đầu đi vào chiều sâu.
Để xác định các mục tiêu, định hướng cho công tác cải cách thuế với một tầm nhìn trung và dài hạn, Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030.
Tại Chiến lược này đã xác định mở rộng cơ sở thu, nuôi dưỡng nguồn thu gắn với yêu cầu khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển là mục tiêu xuyên suốt của quá trình cải cách hệ thống chính sách thuế của Việt Nam.
Trong thời gian trước mắt, Bộ Tài chính tiếp tục ưu tiên thực hiện có hiệu quả các giải pháp về thuế, phí, lệ phí cho doanh nghiệp, người dân đã được cấp có thẩm quyền ban hành gần đây nhằm hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh, tăng tổng cầu của nền kinh tế; cùng với đó tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý thu, chuyển đổi số trong lĩnh vực thuế.
Bên cạnh đó, tiếp tục theo dõi sát sao tình hình kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như tình hình kinh tế trong nước để kịp thời tham mưu cấp có thẩm quyền các giải pháp về thuế, phí và lệ phí phù hợp với diễn biến thực tế. Qua đó, cùng với các giải pháp có liên quan thực hiện thắng lợi các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
NĐT: Nguồn thu ngân sách phần lớn đến từ thu nội địa. Vậy theo Thứ trưởng, trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động như hiện nay thì liệu đây có phải nguồn thu bền vững không?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Trước hết, cần khẳng định rằng việc thu nội địa chiếm tỉ trọng chủ đạo trong cơ cấu thu ngân sách Nhà nước là xu hướng phù hợp với thông lệ quốc tế và phản ánh đúng bản chất của một nền tài chính quốc gia lành mạnh, tự chủ.
Bộ Tài chính nhận định, thu nội địa, nếu được xây dựng trên nền tảng một nền kinh tế phát triển lành mạnh, môi trường đầu tư - kinh doanh minh bạch, ổn định và khu vực doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, thì chính là nguồn thu bền vững nhất.
Thời gian qua, cơ cấu thu ngân sách Nhà nước chuyển biến theo hướng bền vững: thu nội địa ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong tổng thu ngân sách Nhà nước.
Cụ thể, từ mức trên 60% năm 2010 đã tăng lên hơn 80% vào giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh Chính phủ ban hành hàng loạt các chính sách miễn, giảm, gia hạn nhiều loại thuế, phí, tiền thuê đất với quy mô lớn trong thời gian này, với số tiền được miễn, giảm, gia hạn lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng. Điều này phản ánh cơ cấu thu đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng xuất phát từ nội lực sản xuất kinh doanh trong nước, bảo đảm tính bền vững cho nguồn thu ngân sách Nhà nước trong dài hạn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động hiện nay, từ rủi ro suy giảm tăng trưởng toàn cầu, biến động địa chính trị, giá cả hàng hóa, đến những thách thức nội tại như sức chống chịu của doanh nghiệp còn hạn chế, việc dựa nhiều vào thu nội địa đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác điều hành chính sách tài khóa.
Thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ theo dõi sát sao tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới; phấn đấu hoàn thành “mục tiêu kép” là vừa hoàn thành dự toán thu ngân sách Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế.
NĐT: Vậy Thứ trưởng đánh giá thế nào về việc khoản thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước vẫn khá khiêm tốn, chỉ chiếm 8,8% tổng dự toán thu nội địa năm 2026?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Đối với ý kiến cho rằng khoản thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm khoảng 8,8% tổng dự toán thu nội địa năm 2026, cần nhìn nhận vấn đề này một cách toàn diện và khách quan.
Thứ nhất, tỉ trọng này tuy ở mức khiêm tốn nhưng số thu tuyệt đối vẫn tiếp tục tăng so với các năm trước, phản ánh xu hướng tích cực và đi đúng định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cơ cấu lại nền kinh tế. Theo đó, doanh nghiệp Nhà nước được cơ cấu lại, tập trung vào các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, trong khi khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được mở rộng và trở thành động lực chính của tăng trưởng, tạo việc làm và nguồn thu ngân sách.
Việc tỉ trọng thu từ doanh nghiệp Nhà nước giảm dần nhưng số thu vẫn tăng cho thấy nền kinh tế đang vận hành theo hướng hiệu quả hơn, phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, cần nhìn nhận rõ vai trò của doanh nghiệp Nhà nước không chỉ nằm ở đóng góp trực tiếp vào thu ngân sách Nhà nước, mà còn ở việc giữ vai trò dẫn dắt, ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế, “là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục các “khuyết tật” của cơ chế thị trường”.
Trong nhiều trường hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể mà doanh nghiệp Nhà nước mang lại không thể chỉ đo bằng số thu nộp ngân sách trong ngắn hạn. Do đó, mức đóng góp trực tiếp vào thu ngân sách của khu vực doanh nghiệp Nhà nước không thể so sánh đơn thuần với khu vực tư nhân hay khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung giữ những lĩnh vực then chốt, thiết yếu theo Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả, minh bạch tài chính, quản trị theo chuẩn mực quốc tế; đồng thời, khai thác tốt hơn nguồn thu từ cổ tức, lợi nhuận sau thuế và quá trình sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
NĐT: Một vấn đề đang được dư luận đặc biệt quan tâm thời gian qua đó là những cải cách, thay đổi chính sách về thuế - thông qua việc cụ thể hóa các luật, nghị định về thuế. Thưa Thứ trưởng, những nội dung thay đổi này có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Thời gian qua, Bộ Tài chính đã thực hiện nghiên cứu, rà soát đánh giá tổng thể các luật về thuế để báo cáo cấp có thẩm quyền lộ trình, định hướng sửa đổi, bổ sung các luật này một cách toàn diện.
Đến nay, đã báo cáo Chính phủ trình Quốc hội thông qua các Luật thuế quan trọng là: Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 8 Luật, trong đó có Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Luật Thuế giá trị gia tăng; đồng thời, trình Chính phủ thông qua các Nghị định hướng dẫn thi hành.
Những cải cách, điều chỉnh chính sách thuế tại các luật, nghị định đã và đang góp phần tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch để người nộp thuế nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật về thuế.
Đồng thời, qua việc sửa đổi, bổ sung các Luật thuế đã từng bước khắc phục những bất cập, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách thuế thời gian qua, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về thuế, qua đó, khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Cùng với đó, quá trình cải cách, sửa đổi các luật thuế trong thời gian qua còn góp phần phát huy có hiệu quả vai trò của chính sách thuế dưới phương diện là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích đầu tư, phát triển các ngành, lĩnh vực và địa bàn ưu tiên của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phát triển, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy phát triển bền vững.
NĐT: Bắt đầu từ năm 2026, thực hiện bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh và nâng ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế 500 triệu đồng/năm, Bộ Tài chính dự kiến có 90% hộ kinh doanh không phải nộp thuế? Vậy điều này ảnh hưởng như thế nào đối với số thu năm 2026, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Việc nâng ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế lên 500 triệu đồng/năm và xóa bỏ thuế khoán sẽ giảm thiểu đáng kể gánh nặng thuế cho các hộ kinh doanh nhỏ, phù hợp hơn với thực tế chi phí và mức sống hiện nay, hướng đến sự công bằng trong điều tiết thu nhập.
Trước mắt việc điều chỉnh chính sách này có thể tác động giảm thu ngân sách Nhà nước trong năm 2026. Tuy nhiên, về lâu dài, sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, thúc đẩy hộ kinh doanh tăng cường đầu tư kinh doanh, nuôi dưỡng nguồn thu bền vững hơn cho ngân sách Nhà nước.
NĐT: Thực tế cho thấy khi thuế, phí bị đẩy lên quá cao, doanh nghiệp có xu hướng chuyển chi phí sang người lao động hoặc thu hẹp sản xuất. Thưa Thứ trưởng, làm sao để có thể vừa mở rộng nguồn thu ngân sách mà vẫn bảo đảm được động lực kinh doanh và làm việc của người dân?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Việc sửa đổi, hoàn thiện, ban hành các chính sách thuế, phí, lệ phí trong thời gian qua không đặt trọng tâm vào việc tăng thu từ thuế, phí, lệ phí, mà được được thực hiện theo hướng bao quát đầy đủ các nguồn thu, thu hẹp các lĩnh vực còn bỏ sót hoặc chưa được điều tiết phù hợp, đồng thời điều chỉnh theo hướng giảm thuế suất, tăng ngưỡng chịu thuế. Qua đó vừa đảm bảo mở rộng phù hợp nguồn thu ngân sách vừa hạn chế tối đa việc gia tăng gánh nặng thuế đối với doanh nghiệp và người dân.
Bên cạnh đó, song song với mục tiêu mở rộng và cơ cấu lại nguồn thu ngân sách Nhà nước theo hướng bền vững, trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Bộ Tài chính đã kịp thời tham mưu cấp có thẩm quyền và ban hành theo thẩm quyền các giải pháp hỗ trợ về thuế, phí và lệ phí cho người dân và doanh nghiệp.
Đơn cử như giảm 2% thuế suất thuế VAT đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ; tiếp tục giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn; điều chỉnh mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi; ưu đãi lệ phí trước bạ đối với ô tô điện chạy pin; giảm mức thu phí, lệ phí; gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; gia hạn thời hạn nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất…
Qua đó, vừa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, vừa tạo dư địa để duy trì và mở rộng nguồn thu ngân sách một cách bền vững trong trung và dài hạn.
NĐT: Thưa Thứ trưởng, sau chiến dịch “60 ngày cao điểm”, việc đồng hành với hộ kinh doanh sẽ được tiếp tục như thế nào trong quý I/2026?
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn: Đây là mối quan tâm của hàng triệu hộ kinh doanh bắt đầu thực hiện từ ngay đầu năm 2026. Sau khi kết thúc chiến dịch “60 ngày cao điểm” nêu trên, việc đồng hành với hộ kinh doanh không dừng lại ở một chiến dịch ngắn hạn, mà sẽ được chuyển sang giai đoạn hỗ trợ thường xuyên, bền vững trong quý I/2026 và xuyên suốt cả năm 2026.
Theo đó, sẽ tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật và kê khai ban đầu. Cơ quan thuế sẽ duy trì các tổ hỗ trợ tại địa bàn, đường dây nóng và kênh trực tuyến để kịp thời hướng dẫn hộ kinh doanh mới chuyển sang kê khai, đặc biệt trong những kỳ khai thuế đầu tiên – giai đoạn dễ phát sinh vướng mắc nhất.
Thứ hai, lấy hỗ trợ - hướng dẫn làm trọng tâm, chưa đặt nặng xử phạt. Trong quý I/2026, cơ quan thuế sẽ ưu tiên nhắc nhở, hướng dẫn, giúp hộ kinh doanh hoàn thiện dần việc ghi chép, sử dụng hóa đơn, kê khai đúng, đủ; chỉ xử lý vi phạm đối với các trường hợp cố tình trốn tránh, gian lận.
Thứ ba, chuẩn hóa dần theo lộ trình phù hợp với quy mô hộ kinh doanh. Việc quản lý sẽ được thực hiện theo nguyên tắc “đơn giản – dễ làm – dễ tuân thủ”, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hóa đơn điện tử, phần mềm hỗ trợ miễn phí để giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế.
Thứ tư, tiếp tục phối hợp với các hiệp hội, đại lý thuế, doanh nghiệp công nghệ. Mạng lưới đã hình thành trong chiến dịch 60 ngày sẽ được duy trì và mở rộng trong quý I/2026, nhằm tạo hệ sinh thái hỗ trợ lâu dài cho hộ kinh doanh.
Có thể khẳng định, chiến dịch 60 ngày là điểm khởi đầu, là sự sáng tạo trong phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế đến người nộp thuế nói chung và hộ kinh doanh nói riêng. Còn quý I/2026 là giai đoạn “đỡ đầu - đồng hành - củng cố”. Mục tiêu cao nhất của ngành thuế là giúp hộ kinh doanh yên tâm chuyển đổi, tuân thủ pháp luật thuế một cách tự nhiên, qua đó xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và bền vững cho nền kinh tế.
NĐT: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng đã chia sẻ!