img
[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 1.

Trong cuốn sách "Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới", được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật tháng 5/2023, ngoài việc tập hợp 39 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian giữ cương vị người đứng đầu Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương, còn có một phần đặc biệt.

Đó là bài viết của cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, khái quát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương trong việc kiến tạo nên những định hướng cơ bản và then chốt trong đường lối bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời đại mới.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 2.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Trong nội dung bài viết trên, có một chi tiết đáng chú ý. Theo lời kể của cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, trong quá trình chuẩn bị xây dựng Dự thảo Chiến lược quốc phòng Việt Nam, ông có nhiều lần được làm việc, báo cáo với cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Trong một lần, khi nội dung làm việc chuyển sang chủ đề phát triển vũ khí công nghệ cao của Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ chế tạo tên lửa, ông Vịnh báo cáo với Tổng Bí thư về một số kết quả bước đầu của Tập đoàn Viettel, nhất là những thử nghiệm mới tiến hành đã bắn thành công cả về cự ly và độ chính xác rất tốt.

Bấy giờ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt câu hỏi: "Chú muốn gì ở tên lửa này?"

"Thưa anh, em chỉ mong tới dịp Quốc khánh sắp tới, nhất là dịp kỷ niệm 80 năm vào năm 2025 thì sẽ có vài lữ đoàn tên lửa do Việt Nam tự chế tạo để bảo vệ biển, đảo với tầm bắn cả gần lẫn xa, bao quát hầu hết thềm lục địa của ta được giới thiệu với toàn dân và thế giới", ông Vịnh trả lời.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 3.

Khí tài "make in Việt Nam" tại sự kiện A80. Ảnh Hữu Thắng

Cũng từ vấn đề cụ thể này, ông Vịnh cũng nêu ra những điều còn băn khoăn liên quan tới kế sách bảo vệ Tổ quốc. "Trong thời kỳ mới, chúng ta không thể không nghĩ tới việc phải có phương tiện răn đe phù hợp với điều kiện Việt Nam và luật pháp quốc tế. Muốn vậy, chúng ta phải trù tính rất nhiều vấn đề như: Chọn phương tiện và lực lượng nào để răn đe có hiệu quả; phải bảo đảm răn đe nhưng không để các nước khác nghĩ là đe dọa hay can dự tới lợi ích an ninh của họ... ", ông Vịnh trăn trở.

Trong thời kỳ mới, chúng ta không thể không nghĩ tới việc phải có phương tiện răn đe phù hợp với điều kiện Việt Nam và luật pháp quốc tế. Muốn vậy, chúng ta phải trù tính rất nhiều vấn đề như: Chọn phương tiện và lực lượng nào để răn đe có hiệu quả; phải bảo đảm răn đe nhưng không để các nước khác nghĩ là đe dọa hay can dự tới lợi ích an ninh của họ...
[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 4.Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh

Cũng một dịp khác, ông Vịnh trình bày băn khoăn với Tổng Bí thư về mâu thuẫn giữa bảo mật quân sự với yêu cầu phải minh bạch, công khai trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chẳng hạn như, nghiên cứu phát triển vũ khí mới thì phải bảo mật, nhưng anh em làm vũ khí luôn cháy bỏng ước mơ được Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cho phép trình diễn những vũ khí mới nhất của Việt Nam.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 5.

"Đồng chí Tổng Bí thư ngay lúc đó và cả sau này cũng nhắc lại trong một số cuộc họp của Quân ủy rằng, chúng ta nên chủ động từng bước công khai một số thành tựu quốc phòng, quân sự để củng cố niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế, đồng thời tạo sức mạnh răn đe đối với những thế lực xấu, thù địch. Quan điểm chỉ đạo như vậy đã thực sự "cởi trói" cho rất nhiều hoạt động thực tiễn, trong đó có việc cho phép lần đầu tiên mang sản phẩm vũ khí Việt Nam đi trưng bày tại nước ngoài vào năm 2018 (Triển lãm IndoDefense tại Indonesia)….", Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh kể lại.

Chúng ta nên chủ động từng bước công khai một số thành tựu quốc phòng, quân sự để củng cố niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế, đồng thời tạo sức mạnh răn đe đối với những thế lực xấu, thù địch.

Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã trở thành sự thực. Sau 40 năm kể từ cuộc duyệt binh năm 1985, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng triệu con mắt của quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, lại có sự xuất hiện của các khối xe pháo, vũ khí, khí tài hiện đại của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, trong đó có nhiều sản phẩm do nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam làm chủ.

Tại lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Việt Nam sẽ công khai giới thiệu một loạt vũ khí, khí tài do chính các kỹ sư, nhà khoa học quân sự Việt Nam nghiên cứu, chế tạo. Trong đó, nổi bật nhất là tổ hợp tên lửa đất đối hải Trường Sơn cùng đạn tên lửa hành trình Sông Hồng. 

Một hệ thống Trường Sơn tiêu chuẩn gồm xe chỉ huy, xe radar, xe bệ phóng, xe vận tải – nạp đạn, có khả năng quan sát mặt biển, chỉ thị và tiêu diệt mục tiêu. Tên lửa Sông Hồng đạt tầm bắn khoảng 80km, ứng dụng công nghệ tầng khởi tốc nhiên liệu rắn và quỹ đạo bay bám sóng, giúp tăng khả năng xuyên thủng các lớp phòng thủ đối phương. Đây là một trong những thành phần nòng cốt của hệ thống phòng thủ bờ biển Việt Nam, vừa mang ý nghĩa biểu tượng "núi và sông", vừa khẳng định ý chí kiên cường bảo vệ chủ quyền.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 6.
[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 7.
[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 8.

Song hành với đó là tổ hợp tên lửa phòng không S-125-VT – phiên bản hiện đại hóa sâu của hệ thống S-125M. Điểm đột phá là khả năng dẫn cùng lúc 2 tên lửa vào 2 mục tiêu khác nhau, tỉ lệ đánh trúng máy bay chiến thuật đạt tới 90%, một con số ấn tượng ngay cả trong so sánh quốc tế. Với thời gian triển khai, thu hồi chỉ 20 phút (so với 90 phút của bản gốc), S-125-VT trở thành một trong những "lá chắn di động" hiệu quả, có khả năng cơ động nhanh, khó bị đối phương chế áp.

Ngoài tên lửa, Việt Nam còn ghi dấu bước tiến vượt bậc với các dòng UAV hiện đại. Trong số đó, UAV cảm tử VU-C2 được ví như "đạn tuần kích" thông minh, tích hợp AI và đầu dò quang điện tử, có khả năng tìm, khóa và tiêu diệt mục tiêu chính xác trong tầm chiến thuật. UAV trinh sát tầm trung VU-R70 và tầm ngắn VU-R50 lại thể hiện năng lực giám sát, trinh sát chiến trường ngày đêm với thời gian bay dài, tốc độ cao, khả năng chỉ thị mục tiêu và truyền dữ liệu thời gian thực, phục vụ trực tiếp cho hỏa lực mặt đất và hải quân. Đặc biệt, VU-R70 với tính năng cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) giúp triển khai linh hoạt ngay cả ở địa hình phức tạp.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 9.

Dù những loại vũ khí này đã từng được giới thiệu trước đó tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam song việc được "trình làng" tại một sự kiện trọng thể tầm quốc gia, trước sự chứng kiến của hàng triệu người dân và bạn bè quốc tế vẫn là một dấu mốc đáng nhớ.

Đó không chỉ là minh chứng cho năng lực sáng tạo, tự chủ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam, mà còn khẳng định khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước sau 80 năm lập quốc.

"Make in Vietnam" đã không còn là một khẩu hiệu nữa, mà đã trở thành hiện thực và ngày càng rõ nét hơn, không chỉ tự chủ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có khả năng mở rộng thị trường, xuất khẩu ra nước ngoài.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 10.

Giống như quá trình hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, ngành công nghiệp quốc phòng cũng bắt đầu từ "con số không": không có các cơ sở sản xuất công nghiệp cơ bản, không có các loại vật tư nguyên liệu thiết yếu; không có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề….

Năm 1946, trong hoàn cảnh nước nhà vừa giành độc lập, đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách, sự trở về của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở ra bước ngoặt. Ông cùng đồng sự nghiên cứu, chế tạo nhiều loại vũ khí mới, cải tiến vũ khí cũ, giúp bộ đội ta có được súng chống tăng, đạn chống tăng, bazooka… Những sáng chế ấy không chỉ tăng cường sức mạnh hỏa lực, mà còn thay đổi cục diện nhiều trận đánh, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 11.

Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh nguồn vũ khí viện trợ, đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học quân sự tiếp tục vượt qua vô vàn gian khổ, thiếu thốn để nghiên cứu, cải tiến, sửa chữa, chế tạo, sản xuất hàng triệu tấn vũ khí, đạn, trang bị các loại để phù hợp với cách đánh của bộ đội ta. 

Chính từ sự sáng tạo ấy, quân dân ta đã tạo nên chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972, bắn rơi "pháo đài bay" B-52, khẳng định năng lực tự chủ và sức mạnh trí tuệ Việt Nam trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Bước vào giai đoạn sau năm 1991, khi Liên Xô tan rã, nguồn cung cấp vũ khí, khí tài từ bên ngoài gần như chấm dứt, Việt Nam buộc phải đối diện với thách thức lớn: Làm thế nào để bảo đảm trang bị cho quân đội khi không còn "hậu phương" viện trợ? Chính lúc ấy, tư tưởng "tự lực, tự cường" trong xây dựng công nghiệp quốc phòng được khẳng định là đường lối nhất quán. Bởi lẽ, công nghiệp quốc phòng là lĩnh vực đặc thù bậc nhất trong mọi nền kinh tế – xã hội. 

Không một quốc gia nào sẵn sàng chuyển giao công nghệ lõi trong sản xuất vũ khí, trang bị thế hệ mới cho nước khác, bởi đó không chỉ là bí mật quân sự mà còn là cốt lõi của sức mạnh răn đe quốc gia. Chính vì vậy, con đường duy nhất để Việt Nam có vũ khí hiện đại phù hợp với cách đánh của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời bắt kịp xu thế chiến tranh công nghệ cao, chính là tự chủ công nghiệp quốc phòng.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định: Việt Nam chủ trương xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; từng bước hòa nhập công nghiệp quốc phòng vào công nghiệp quốc gia; đầu tư xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp quốc phòng tiên tiến, tiến tới hình thành các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng công nghệ cao, tự chủ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Từ chủ trương lớn đó của Đảng và Nhà nước, quân đội đã thiết thực đầu tư phát triển nguồn nhân lực, vật lực để hướng đến mục tiêu tự chủ về vũ khí, khí tài và ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo Thiếu tướng Phạm Thanh Khiết - Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng) từng trả lời báo chí, hiện nay, Việt Nam đã cơ bản bảo đảm được vũ khí trang bị cho bộ đội, trong đó có nhiều loại rất hiện đại như tên lửa đã được giới thiệu trong triển lãm Quốc phòng quốc tế 2024. 

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 12.

Công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã thay đổi từ nhận viện trợ, mua sắm, lắp ráp sang tự chủ nghiên cứu, thiết kế và sản xuất. Trong 10 năm qua, 80% vũ khí trang bị đưa vào sử dụng là từ kết quả của các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, khẳng định bước tiến mạnh mẽ của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Nhiều thành tựu về công nghiệp quốc phòng cũng từng bước được công khai, đặc biệt kể từ khi Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam được tổ chức định kỳ hằng năm. Nhiều sản phẩm quân dụng và lưỡng dụng "Make in Vietnam" được giới thiệu, công chúng có thể tận mắt chứng kiến, chạm vào và thậm chí trải nghiệm những thành tựu công nghiệp quốc phòng Việt Nam tự mình nghiên cứu, sản xuất. Nếu trước đây có người còn nghi ngờ về khả năng tự chủ về vũ khí, trang bị của Việt Nam thì những minh chứng sống động ấy đã xóa tan mọi nghi ngờ.

Một bước ngoặt quan trọng là năm 2024, Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp, góp phần tạo hành lang pháp lý căn bản cho sự phát triển dài hạn của lĩnh vực này, với 40 cơ chế, chính sách đặc thù, nổi bật là chính sách đặc thù về bảo đảm nguồn lực tài chính trong phát triển vũ khí; chế độ chính sách cho cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt; chính sách thu hút, gìn giữ nhân lực chất lượng cao về quân sự, đặc biệt nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư về vũ khí.

Người La Mã cổ đại từng đúc kết: "Nếu muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh" (If you want peace, prepare for war). Thông điệp ấy, qua thời gian, càng chứng minh giá trị thực tiễn trong bối cảnh hiện nay. Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng đó không phải là một thứ hòa bình mông lung, thiếu căn cứ. Hòa bình ấy phải được bảo đảm bằng sức mạnh nội lực, trong đó có tiềm lực quốc phòng đủ mạnh để có đủ khả năng tự vệ, bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.

Trong những ngày mùa thu lịch sử này, nhìn những đoàn xe pháo quân sự chạy trên đường phố Hà Nội, càng thấy dâng trào niềm tự hào và niềm tin: dân tộc ta đủ sức mạnh để giữ gìn độc lập, bảo vệ hòa bình, và vững bước tiến lên tương lai.

[E] Ước nguyện của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và khát vọng vũ khí "Make in Vietnam"- Ảnh 13.

THỰC HIỆN: MẠNH QUỐC

THIẾT KẾ: QUỲNH CHI

HÌNH ẢNH: HỮU THẮNG

NGUOIDUATIN.VN | Thứ Sáu, 29/8/2025 | 07:00 

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.