Ca phẫu thuật giữa lằn ranh sinh tử của người mẹ gác điều trị ung thư để sinh con

Hoàng Thị Bích

Hoàng Thị Bích

Thứ 6, 11/09/2026 15:16 GMT+7

Phát hiện ung thư trực tràng khi mang thai tháng thứ 5, người phụ nữ 38 tuổi trì hoãn điều trị vì sợ ảnh hưởng đến con.

Ca phẫu thuật thách thức giữa ranh giới sinh tử

Bệnh nhân Nguyễn Thu Hằng (38 tuổi) phát hiện ung thư trực tràng thấp giai đoạn cT3N1M0 khi mang thai người con thứ ba được khoảng 5 tháng. Khối u đã xuyên qua thành trực tràng và có hạch vùng nhưng chưa phát hiện di căn xa.

Vì lo lắng cho sự an toàn của con và băn khoăn rằng các phương pháp điều trị có thể ảnh hưởng đến thai nhi, người mẹ quyết định trì hoãn điều trị ung thư. Chị sinh con an toàn rồi ở nhà chăm sóc con trong bốn tháng.

Đến tháng 4/2026, bệnh nhân đến bệnh viện thăm khám và được phát hiện khối u chỉ cách mép hậu môn khoảng 2,5cm, bệnh đã tiến triển ở giai đoạn cT4bN2M0, xâm lấn rộng hơn vào tổ chức xung quanh.

Trì hoãn điều trị với mong muốn sinh con an toàn, bệnh nhân nhập viện khi ung thư đã tiến triển sang giai đoạn cT4bN2M0.

Tại Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, bệnh nhân được hội chẩn và điều trị hóa xạ trị trước mổ, sau đó tiếp tục hóa trị FOLFOX - phác đồ kết hợp oxaliplatin với 5-fluorouracil và leucovorin, được sử dụng trong điều trị ung thư đại trực tràng.

Tuy nhiên, thể trạng người bệnh ngày càng suy yếu. Sau đợt hóa trị thứ 3, chị gặp những cơn đau dữ dội vùng tầng sinh môn, không thể ăn uống và ngủ được, cân nặng chỉ còn khoảng 35 kg.

Trước tình trạng này, PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Ngoại khoa, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông quyết định dừng hóa trị và tiến hành phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng theo đường bụng - tầng sinh môn. Khi mổ, ê-kíp phát hiện khối u đã xâm lấn thành một mảng ở tổ chức trước xương cùng nhưng chưa vào xương.

Ca phẫu thuật sinh tử của người mẹ gác điều trị ung thư để sinh con - Ảnh 1.

Ê-kíp thực hiện phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng cho bệnh nhân (Ảnh: BVCC).

Trong quá trình phẫu thuật nội soi qua đường bụng, ê-kíp nhận thấy vùng tổn thương nằm rất sâu và dính chặt vào các mô xung quanh. Nếu cố gắng bóc tách từ hướng này, nguy cơ gây tổn thương các cơ quan lân cận là rất lớn.

PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn quyết định chuyển hướng tiếp cận từ phía tầng sinh môn. Đây là vùng phẫu thuật đặc biệt nguy hiểm do nằm sát hệ thống tĩnh mạch trước xương cùng. Nếu các tĩnh mạch này bị tổn thương, người bệnh có thể bị chảy máu dữ dội - tình huống khó kiểm soát và đe dọa tính mạng ngay trên bàn mổ.

Lúc này, ê-kíp đứng trước một quyết định khó khăn: nếu dừng lại, nguy cơ tai biến trong cuộc mổ có thể giảm xuống, nhưng phần tổn thương còn lại có thể làm tăng nguy cơ bệnh tái phát; nếu tiếp tục, nguy cơ chảy máu nghiêm trọng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Trước tình huống đó, ê-kíp phẫu thuật kiểm tra lại các mốc giải phẫu, trao đổi kỹ lưỡng và chuẩn bị phương án kiểm soát chảy máu. Sau khi cân nhắc, các bác sĩ quyết định tiếp tục phẫu thuật, từng bước bóc tách mảng tổ chức bị xâm lấn khỏi vùng trước xương cùng, nhằm loại bỏ tổn thương và hạn chế tối đa nguy cơ tai biến.

Ca phẫu thuật diễn ra thành công, người bệnh rời phòng mổ an toàn. Đến ngày thứ năm sau phẫu thuật, bệnh nhân đã có thể ngồi dậy. Những cơn đau dữ dội trước đó không còn xuất hiện, thể trạng và thần sắc của chị cũng cải thiện rõ rệt.

Kết quả giải phẫu bệnh sẽ tiếp tục được phân tích để đánh giá chính xác diện cắt, từ đó xây dựng kế hoạch điều trị tiếp theo cho người bệnh.

Rời phòng mổ an toàn, chị Hằng hồi phục nhanh chóng sau 5 ngày phẫu thuật, sẵn sàng cho lộ trình điều trị tiếp theo

Giữ thai không có nghĩa là ngừng mọi điều trị

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, trong các hướng dẫn quốc tế hiện nay, phụ nữ mắc ung thư khi mang thai không nhất thiết phải lựa chọn giữa điều trị cho mẹ và bảo đảm an toàn cho con. Phẫu thuật vẫn có thể được thực hiện trong thai kỳ khi thật sự cần thiết và có chỉ định phù hợp. 

Một số hóa chất có thể được cân nhắc sử dụng sau ba tháng đầu thai kỳ. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như nội soi, siêu âm và cộng hưởng từ không tiêm thuốc đối quang từ cũng có thể được áp dụng khi có chỉ định phù hợp.

BS.Tuấn cho biết thêm, một nghiên cứu quốc tế được đăng trên tạp chí The Lancet Oncology năm 2018, tổng hợp dữ liệu của 1.170 phụ nữ được chẩn đoán ung thư trong thai kỳ tại 37 trung tâm y tế thuộc 16 quốc gia, cho thấy ngày càng nhiều phụ nữ mang thai mắc ung thư được điều trị ngay trong thai kỳ, thay vì phải chấm dứt thai kỳ hoặc trì hoãn điều trị đến sau sinh.

Một nghiên cứu khác trên 755 phụ nữ mắc ung thư được hóa trị trong thai kỳ cũng cho thấy khi hóa trị bắt đầu sau tuần thai thứ 12, tỉ lệ dị tật lớn ở trẻ khoảng 3%, tương đương mức dự kiến trong cộng đồng. Điều này không có nghĩa hóa trị hoàn toàn không có nguy cơ, nhưng cũng cho thấy không đúng khi cho rằng cứ hóa trị là trẻ chắc chắn bị dị tật.

PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn khuyến cáo, ung thư trong thai kỳ cần được hội chẩn đa chuyên khoa sớm để cân nhắc phương án điều trị phù hợp với giai đoạn bệnh, tuổi thai và nguyện vọng của gia đình.

"Trong lúc người mẹ chờ con lớn lên từng tuần, khối ung thư có thể không chờ đợi cùng chị. Đôi khi, dũng cảm không phải là chấp nhận từ bỏ mạng sống vì con, mà là bước vào điều trị để giành lấy cơ hội sống cùng con", BS.Tuấn chia sẻ.

Cảm ơn bạn đã quan tâm đến nội dung trên. Hãy tặng sao để tiếp thêm động lực cho tác giả có những bài viết hay hơn nữa.
Đã tặng: 0 star
Tặng sao cho tác giả
Hữu ích
5 star
Hấp dẫn
10 star
Đặc sắc
15 star
Tuyệt vời
20 star

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.