Sáng 2/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Biển Việt Nam 2026, phiên thảo luận chuyên đề "Huy động nguồn lực và tăng cường kết nối quốc tế vì phát triển bền vững" đã diễn ra sôi nổi dưới sự chủ trì của TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ quốc gia.
Mở đầu phiên họp, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh ngành kinh tế biển thế giới đang đóng góp khoảng 4% GDP toàn cầu và Việt Nam đặt mục tiêu đưa kinh tế biển đạt 10% GDP vào năm 2030. Tuy nhiên, nhu cầu vốn đầu tư cho kinh tế biển trong 5 năm tới ở mức 1.500 tỷ USD, đòi hỏi sự tham gia mạnh mẽ từ khu vực tư nhân và các dòng vốn quốc tế.

Đại diện doanh nghiệp và chuyên gia thảo luận giải pháp cho ngành hàng hải Việt Nam (Ảnh: Việt Anh).
Theo đó, tại phiên làm việc, đại diện các doanh nghiệp logistics hàng đầu cùng các chuyên gia tài chính đã tập trung thảo luận các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, phát triển trung tâm tài chính và tối ưu hóa giá trị chuỗi cung ứng biển.
Đánh giá về thực trạng ngành dịch vụ hàng hải nước ta, ông Phạm Quốc Long - Phó Tổng Giám đốc Gemadept cho biết, ngành hàng hải của Việt Nam đang trên đà phát triển và có nhiều dư địa có thể khai thác. Tuy nhiên, ông Long cũng chỉ ra thực trạng đáng ngại khi tỉ lệ giá trị giữ lại của Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 7-8%, doanh thu toàn ngành chủ yếu dựa vào các dịch vụ truyền thống có biên lợi nhuận thấp như bốc xếp, tàu lai, hoa tiêu.
Theo đó, để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng hải Việt Nam, ông Phạm Quốc Long kiến nghị Việt Nam cần mở rộng sang các mảng dịch vụ có giá trị cao như tài chính thuê mua tàu, trọng tài hàng hải, bảo hiểm, cung ứng nhiên liệu, nước ngọt và đào tạo thuyền viên.
Về phía chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, Phó Tổng giám đốc Gemadept kiến nghị Chính phủ cần sớm ban hành quy hoạch tổng thể không gian quốc gia hợp lý để tránh chồng chéo dự án. Cùng với đó, kiến nghị các bộ ngành nhanh chóng nạo vét hạ tầng luồng tàu, xây dựng dữ liệu thông tin liên thông, điều chỉnh giá bốc xếp tiệm cận khu vực và áp dụng các chính sách ưu đãi thuế, đầu tư cho doanh nghiệp nội địa nhằm giành được quyền vận tải và bảo hiểm.
Phân tích sâu về định hướng kết nối dòng vốn trong tương lai, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế cho biết: "Các giao dịch tài chính hàng hải hiện nay chủ yếu được thực hiện tại Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc) do phía nhà đầu tư nước ngoài thường ưu tiên các nước sử dụng thông luật và độ mở với tự do hóa dòng vốn lớn".
Trong tình hình đó, Trung tâm Tài chính quốc tế đang phối hợp chặt chẽ với các công ty logistics và các tổ chức tài chính để xây dựng hệ sinh thái tài chính hàng hải toàn diện tại Tp.Hồ Chí Minh. Trong đó bao gồm kế hoạch phát triển phần mềm dùng chung cho các định chế và sàn giao dịch hàng hóa hàng hải trong tương lai.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Trung tâm Tài chính quốc tế chia sẻ tại diễn đàn (Ảnh: Việt Anh).
Cũng tại phiên thảo luận, ông Khiếu Anh - đại diện Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn đã đóng góp ý kiến từ góc độ vận hành hạ tầng. Ông đề xuất chuyển đổi tư duy từ "dự án cảng" sang phát triển "hành lang cảng" kết nối đồng bộ cả đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.
Đồng thuận với quan điểm trên, các đại diện đề nghị phía Nhà nước cần tạo cơ chế cho doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia đầu tư hạ tầng kết nối và chia sẻ luồng dữ liệu liên thông nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian và thực hiện mục tiêu giảm phát thải carbon.

Đại diện Tân Cảng Sài Gòn nhấn mạnh việc chủ động xây dựng hạ tầng dùng năng lượng sạch (Ảnh: Việt Anh).
Đại diện Tân Cảng Sài Gòn nhấn mạnh rằng, các doanh nghiệp logistics cần chủ động xây dựng hạ tầng dùng năng lượng sạch và đo lường được phát thải carbon trên từng container để đáp ứng điều kiện tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi xanh từ các định chế toàn cầu.
Đóng góp ý kiến về mô hình huy động vốn của Việt Nam, ông Jian Dan - Phụ trách Đầu tư khu vực của Tập đoàn Maersk gợi ý rằng Việt Nam nên nghiên cứu bài học từ Hong Kong (Trung Quốc) và Thượng Hải trong việc dùng cơ chế thu hút vốn tư nhân. Các biện pháp sẽ bao gồm nới lỏng rào cản sở hữu nước ngoài và tăng cường tính minh bạch để các doanh nghiệp dễ dàng đầu tư vào Việt Nam, từ đó tối ưu hóa hạ tầng cảng biển.