Tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê sáng 3/10, bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, CPI tháng 9/2026 tăng 0,62% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến giá nhiên liệu thế giới. So với tháng 12/2025, CPI tăng 4,2%; so với cùng kỳ năm trước, chỉ số này tăng 5,08%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, CPI bình quân tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Riêng quý III/2026, CPI bình quân tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 9, có 9 trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính ghi nhận chỉ số giá tăng. Trong đó, nhóm giao thông tăng mạnh nhất, ở mức 3,97%; tiếp đến là nhóm giáo dục tăng 1,41%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,35%, nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,28%, thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,19%, hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,1%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%, may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,04%.
Ở chiều ngược lại, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,28%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,14% so với tháng trước.
Bà chia sẻ thêm, 9 tháng đầu năm, sự thay đổi về giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống và dịch vụ y tế là những yếu tố góp phần làm CPI chung tăng. Trong đó, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, tác động làm CPI tăng 1,52 điểm phần trăm. Nhóm giao thông tăng 6,06%, tác động làm CPI tăng 0,6 điểm phần trăm.
Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng tăng 4,26%, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI chung. Theo Cục Thống kê, nguyên nhân là một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có biến động giá mạnh, góp phần làm tăng CPI nhưng được loại trừ khi tính lạm phát cơ bản. Riêng trong tháng 9, lạm phát cơ bản tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước.
Giá vàng và USD biến động cùng chiều với thế giới
Cũng theo bà Hương, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới tháng 9 (tính đến ngày 25/9/2026) ở mức 4.434,45 USD/ounce, tăng 1,31% so với tháng 8, chủ yếu do đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm và dòng vốn đầu tư vào các quỹ vàng tăng. Bên cạnh đó, căng thẳng địa chính trị làm gia tăng nhu cầu đối với tài sản trú ẩn an toàn.
Chỉ số giá vàng trong nước tháng 9 năm nay tăng 2,38% so với tháng 8; tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; giảm 4,04% so với tháng 12/2025; bình quân chín tháng năm 2026 tăng 42,67% so với cùng kỳ năm trước.

Giá vàng và USD biến động cùng chiều với thế giới (Ảnh: Thành Long).
Tương tự, giá USD trong nước cũng biến động cùng chiều với giá thế giới. Chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế tháng 9 (tính đến ngày 25/9/2026) đạt mức 99,5 điểm, giảm 0,16 điểm so với tháng trước, trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm.
Trong nước, chỉ số giá USD tháng 9 giảm 0,69% so với tháng trước; giảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước; giảm 1,07% so với tháng 12/2025; bình quân chín tháng năm 2026 tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng, triển vọng sản xuất cải thiện
Tính tới tháng 9/2026, Cục Thống kê cho biết cả nước có gần 149.700 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.884 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 733.100 lao động, tăng 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 32,7% về vốn đăng ký. Tuy nhiên, Cục Thống kê lại ghi nhận giảm 16,1% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong chín tháng năm 2026 đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng, triển vọng sản xuất cải thiện (Ảnh: Việt Anh).
Theo số liệu công bố, đã có sự thay đổi tích cực về số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong chín tháng năm 2026, ghi nhận đạt hơn 223.900 doanh nghiệp, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước, tương đương bình quân mỗi tháng có khoảng 24.900 doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt hơn 5.000 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%.
Xét theo khu vực kinh tế, 9 tháng năm 2026 có 1.558 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; hơn 36.900 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng; gần 111.200 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ.
Ở chiều ngược lại, tính đến hết tháng 9/2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 89.800 doanh nghiệp; 33.500 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hơn 48.700 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, rút lui khỏi thị trường
Về xu hướng kinh doanh, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý III/2026 của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy 34,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý trước; 45,7% nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,1% cho biết gặp khó khăn.
Các số liệu về sản xuất và đơn hàng của doanh nghiệp cũng cho thấy sự thay đổi tích cực. Cụ thể, có 31,9% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý III/2026 cao hơn quý trước; 48,3% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng mới ổn định và 19,8% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm . Xu hướng quý IV cũng có những dự báo tốt, trong đó 37,3% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 48,3% dự kiến có đơn hàng ổn định và 14,4% dự kiến đơn hàng giảm.
Triển vọng kinh doanh quý IV/2026 có dấu hiệu tích cực hơn khi có 39,2% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ có cải thiện; 44,7% cho rằng tình hình sẽ ổn định và 16,1% dự báo khó khăn. Xét theo khu vực kinh tế, tỉ lệ doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2026 tốt hơn hoặc ổn định so với quý III/2026 ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lạc quan nhất với 85,5%; khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 83,3% và khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước là 83,1%.
Riêng đơn đặt hàng xuất khẩu được dự đoán trong quý IV, 30,8% doanh nghiệp dự báo số đơn hàng mới tăng trong quý IV/2026, 54,2% dự báo ổn định và 15% dự báo giảm.