Điều này dẫn đến lãi suất cho vay của ngân hàng bị đẩy lên một cách ồ ạt. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vốn đang được nhà nước khuyến khích nhưng hiện nay đang gặp phải một trở ngại lớn đó là lãi suất quá cao. PV đã có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia xung quanh vấn đề này.
Ông Lê Xuân Nghĩa
Lãi suất cho vay vừa được quy định trần ở mức 14%/năm. Nhiều người cho rằng đây là động thái để hạ lãi suất cho vay. Nhưng đến thời điểm này, lãi suất cho vay vẫn duy trì ở mức cao (trên 20%/năm). Theo ông, cần có những biện pháp gì để có thể sớm hạ lãi suất cho vay?
Trần lãi suất tiền gửi thực ra là không có thực trên thực tế, mặc dù cũng có người cho rằng có vẫn còn hơn không. Có trần lãi suất tiền gửi cũng làm cho các ngân hàng thương mại muốn tăng trần lãi suất lên cũng ngại vì sợ bị kiểm tra.
Nhưng cái chính là người ta không thể duy trì một mức lãi suất tiền gửi thấp như thế được vì còn phụ thuộc vào người gửi tiền chứ đâu chỉ phụ thuộc vào ngân hàng. Quan trọng hơn điều này làm cho việc phá rào trở nên nghiễm nhiên, làm cho kỷ cương và tính minh bạch bị giảm sút. Đặc biệt, các ngân hàng thương mại buộc phải có hai sổ sách để có thể hạch toán theo quy định và hạch toán theo thực tế. Đây là điều tối kỵ đối với các định chế tài chính.
Nên quy định trần lãi suất cho vay thay vì là quy định trần lãi suất huy động. ông nghĩ sao về điều này?
Tôi không đồng ý với việc quy định trần lãi suất. Nói chung nên bỏ trần lãi suất tiền gửi và kiên nhẫn chờ đợi một thời gian nữa cho lạm phát giảm xuống và chờ đợi các biện pháp khác của Chính phủ như cắt giảm chi tiêu công, thắt chặt tiền tệ phát huy tác động.
Những biện pháp ấy phải có độ trễ mới vào cuộc sống được. Như vậy nó sẽ phát huy tác dụng vào khoảng tháng 5 trở đi, lúc đó lạm phát bắt đầu giảm thì mới có cơ hội để điều chỉnh lãi suất.
Trong số 5 ngân hàng cổ phần có quy mô vốn lớn nhất tại Việt Nam hiện nay, ngân hàng thấp nhất cũng có lợi nhuận khoảng 10%. Còn lại phổ biến mức lãi 20-50%. Cá biệt có ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận đạt trên 70%. Mặc dù lãi suất tái cấp vốn vừa được nâng thêm 2% nhưng cũng vẫn là chênh lệch quá lớn nếu so sánh lãi suất tái cấp vốn (11%/năm) và lãi suất cho vay (18-20%/năm). Các ngân hàng có nên giảm lợi nhuận để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong thời điểm khó khăn này?
Lợi nhuận của các ngân hàng không chỉ đến từ hoạt động tín dụng với phần thu từ chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay. Lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2010 thấp hơn năm 2009, bình quân lãi ròng trên vốn tự có chỉ đạt khoảng 10,4%. Do vậy, khó có thể nói rằng ngân hàng huy động thấp nhưng cho các doanh nghiệp vay với lãi suất cao, nguồn lợi của ngân hàng có được là do nhiều hoạt động khác mang lại.
Không chỉ doanh nghiệp mà ngân hàng cũng khó khăn
Giá xăng, giá điện, tỷ giá và lãi suất đang là những yếu tố tạo sức ép cho các doanh nghiệp. ông đánh giá như thế nào về những khó khăn của các doanh nghiệp trong thời gian này?
Đây là thời gian khó khăn của doanh nghiệp. Lãi suất cao như thế làm đầu tư suy giảm mạnh nhưng đây cũng là mục đích của chống lạm phát. Tăng lãi suất để kiềm chế đầu tư và tiêu dùng. Nhưng nếu lãi suất cao kéo dài thì sẽ xảy ra nhiều hiệu ứng.
Thứ nhất, người dân sẽ đưa vào kinh doanh các dự án có mức độ mạo hiểm rất lớn, mới mong có được lãi suất cao mới chịu được lãi suất này. Như vậy nguy cơ nợ xấu trong tương lai là rất cao.
Thêm nữa việc phân bổ nguồn lực trở nên không bình đẳng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân sẽ không dám vay. Trong khi đó vốn sẽ chảy vào các khu vực doanh nghiệp nhà nước vì các doanh nghiệp này vay không phải thế chấp tài sản, tổng tài sản của họ là rất lớn nên sẽ chịu được rủi ro, lại có nhà nước làm hậu thuẫn nên vay cũng không cần ngần ngại gì nhiều.
Mặc dù lãi suất cao nhưng vốn lại chảy về khu vực có rủi ro về nợ xấu rất lớn. Điều đó có thể dẫn đến rủi ro cho các ngân hàng vì nợ xấu tăng lên trong tương lai.
Đã có lần ông phát biểu rằng: "Lãi suất ở Việt Nam cao nhất thế giới". Vì sao ở một đất nước đang phát triển như chúng ta lại có nền lãi suất cao đến vậy?
Lãi suất cao như vậy chứng tỏ hai vấn đề: Mặc dù kinh tế Việt Nam phát triển nhưng lạm phát cũng như điều hành kinh tế của chúng ta trong thời gian qua còn có những vấn đề. Lạm phát có tính chất tâm lý rất lớn, người ta muốn nếu giữ tiền Việt Nam đồng thì lãi suất vừa phải bù đắp được sự mất giá của đồng tiền, vừa bù đắp được rủi ro của đồng tiền ấy.
Vì thế lãi suất được đẩy lên rất cao. Bên cạnh đó, lãi suất cao là do tác động của một số yếu tố khác như thị trường chứng khoán đình trệ, thị trường bất động sản cũng có nhiều rủi ro, giá cả mà nhất là giá thực phẩm tăng cao làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm sút và khả năng tiết kiệm của người dân cũng giảm. Tất cả những nguyên nhân đó làm cho lãi suất của Việt Nam hiện đang ở mức cao nhất thế giới.
Lại Quỳnh