GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động

Hoàng Thị Bích

Hoàng Thị Bích

Thứ 3, 01/09/2026 08:34 GMT+7

Nhìn lại chặng đường 81 năm kể từ mùa Thu lịch sử năm 1945, GS.Vũ Minh Giang cho rằng yêu nước, độc lập, tự chủ, đại đoàn kết, tự lực, tự cường, nhân nghĩa và khả năng thích ứng, sáng tạo là những giá trị cốt lõi luôn được dân tộc Việt Nam kế thừa và phát huy.

Người Đưa Tin (NĐT) đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia Việt Nam, Ủy viên ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về những thành tựu nổi bật sau 41 năm thực hiện đường lối Đổi mới, cũng như những giá trị cốt lõi của dân tộc được kế thừa, phát huy trong suốt 81 năm qua.

Mở ra không gian phát triển mới

NĐT: Thưa GS Vũ Minh Giang, nhìn lại 41 năm thực hiện đường lối Đổi mới, từ góc độ một nhà sử học, ông đánh giá đâu là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nổi bật nhất của Việt Nam, và đâu là những thành tựu có ý nghĩa đặc biệt đối với vị thế của đất nước hôm nay?

GS.Vũ Minh Giang: Nhìn lại 41 năm thực hiện đường lối Đổi mới, từ góc độ của một nhà sử học, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là phải nhìn Đổi mới như một bước chuyển có tính lịch sử trong tư duy phát triển và phương thức tổ chức đời sống quốc gia chứ không chỉ đơn thuần như một quá trình thay đổi chính sách kinh tế. Thành tựu lớn nhất của Đổi mới chính là Việt Nam đã tạo ra được một sự thay đổi căn bản cả về thế và lực của đất nước.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 1.

Việt Nam đã tạo ra được một sự thay đổi căn bản cả về thế và lực của đất nước (Ảnh: Hữu Thắng).

Trước hết, thành tựu có ý nghĩa lịch sử nổi bật nhất là đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước tạo dựng một nền kinh tế năng động và nâng cao rõ rệt đời sống nhân dân. Từ một nền kinh tế vận hành trong cơ chế tập trung, bao cấp, sản xuất trì trệ, thiếu thốn kéo dài, Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. Hàng chục triệu người đã thoát khỏi nghèo đói; cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ và chất lượng cuộc sống có những bước tiến rất lớn. Nếu nhìn bằng thước đo lịch sử, đây là một sự thay đổi có tính căn bản đối với xã hội Việt Nam.

Thứ hai, Đổi mới đã tạo dựng và củng cố một nền tảng chính trị - xã hội ổn định để phát triển đất nước. Trong lịch sử hiện đại, không phải quốc gia nào tiến hành chuyển đổi mô hình phát triển cũng giữ được sự ổn định cần thiết. Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách thể chế, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chính sự ổn định chính trị - xã hội đã trở thành một nguồn lực quan trọng để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu dài hạn.

Thứ ba, một thành tựu đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã chuyển từ một đất nước tương đối khép kín sang một quốc gia hội nhập sâu rộng với thế giới. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tham gia ngày càng sâu vào các thể chế quốc tế và trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đây là sự thay đổi rất lớn về vị thế quốc gia. Có thể nói, Đổi mới đã mở ra một không gian phát triển hoàn toàn khác cho Việt Nam.

Đặc biệt, thành tựu có ý nghĩa đối với vị thế của Việt Nam hôm nay chính là sự chuyển biến từ "tham gia" sang "chủ động hội nhập và tham gia kiến tạo, đóng góp". Việt Nam ngày càng có khả năng tham gia định hình các vấn đề khu vực và quốc tế, đảm nhiệm nhiều trọng trách trong các tổ chức quốc tế, đồng thời xây dựng được quan hệ đối tác với nhiều nước lớn. Vị thế ấy không chỉ đến từ quy mô kinh tế, mà còn từ uy tín chính trị, khả năng giữ vững độc lập, tự chủ và một chính sách đối ngoại cân bằng, linh hoạt, thực chất.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 2.

Giáo sư Vũ Minh Giang.

Một thành tựu khác cần đặc biệt nhấn mạnh là sự hình thành một thế hệ người Việt Nam mới có tư duy hội nhập. Đổi mới không chỉ thay đổi cơ chế kinh tế mà còn thay đổi cách người Việt Nam nhìn về thế giới, về thị trường, về khoa học - công nghệ, về doanh nghiệp và về cơ hội phát triển của mỗi cá nhân. Hàng triệu người Việt Nam đã có điều kiện học tập, làm việc, kinh doanh và hợp tác trên phạm vi toàn cầu. Đây là một nguồn lực rất lớn cho tương lai.

Từ góc nhìn lịch sử, tôi cho rằng giá trị lớn nhất của 41 năm Đổi mới không phải là một con số GDP hay một thành tích riêng lẻ, mà là việc Việt Nam đã tạo dựng được một thế và lực mới để bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo. Nếu trước đây mục tiêu hàng đầu là thoát khỏi khủng hoảng và bảo đảm cuộc sống, thì hôm nay yêu cầu đã khác: phải xây dựng một quốc gia phát triển, có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ khoa học - công nghệ, có nền kinh tế độc lập, tự chủ và có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Vì vậy, nhìn về phía trước, thành công của Đổi mới trong 41 năm qua chính là tiền đề; còn thử thách lớn nhất là phải tiếp tục đổi mới tư duy để biến những thành tựu đã có thành năng lực phát triển mới. Lịch sử cho thấy những quốc gia thành công không phải là những quốc gia chỉ biết giữ những gì đã đạt được, mà là những quốc gia biết thay đổi đúng lúc. Việt Nam đang đứng trước một thời điểm như vậy: từ Đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng, đến Đổi mới để trở thành một quốc gia phát triển và có ảnh hưởng tích cực trong khu vực cũng như trên thế giới.

Đặt con người ở vị trí trung tâm

NĐT: Theo Giáo sư, những giá trị bất biến trong lịch sử dựng nước và giữ nước được kế thừa trong suốt 81 năm qua là gì?

GS.Vũ Minh Giang: Nhìn lại lịch sử Việt Nam, dù hoàn cảnh và phương thức phát triển của đất nước luôn thay đổi, vẫn có những giá trị cốt lõi mang tính bền vững, được kế thừa và phát huy trong suốt 81 năm qua, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.

Trước hết là lòng yêu nước và ý thức độc lập, tự chủ. Đây là giá trị xuyên suốt lịch sử dân tộc. Từ truyền thống dựng nước, giữ nước của cha ông đến Cách mạng Tháng Tám, các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và công cuộc Đổi mới, độc lập dân tộc luôn là nguyên tắc nền tảng. Nhưng độc lập ngày nay không chỉ được hiểu là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn là tự chủ về tư duy, về lựa chọn con đường phát triển và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ, kinh tế.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 3.

Lòng yêu nước và ý thức độc lập, tự chủ là giá trị xuyên suốt lịch sử dân tộc (Ảnh: Hữu Thắng).

Tiếp đó là tinh thần đại đoàn kết dân tộc luôn được củng cố và phát huy. Lịch sử cho thấy khi đất nước đứng trước những thử thách lớn, sức mạnh quyết định luôn là sự đồng lòng của toàn dân. Từ đoàn kết trong đấu tranh giành độc lập đến đoàn kết trong xây dựng và phát triển đất nước hôm nay, đây vẫn là một nguồn lực đặc biệt quan trọng.

Cùng với đó là ý chí tự lực, tự cường nhưng đồng thời biết mở cửa và tiếp thu tinh hoa bên ngoài. Ngày nay, tinh thần ấy được thể hiện trong chủ trương chủ động hội nhập quốc tế, nhưng luôn giữ vững độc lập, tự chủ.

Và có lẽ sâu xa nhất là truyền thống lấy con người và cộng đồng làm trung tâm, coi trọng nghĩa đồng bào, lòng nhân ái và trách nhiệm với thế hệ mai sau. Chính những giá trị đó tạo nên sức bền của dân tộc Việt Nam.

Tôi cho rằng yêu nước, độc lập tự chủ, đại đoàn kết, tự lực tự cường, nhân nghĩa và khả năng thích ứng sáng tạo là những giá trị bất biến. Cái bất biến là những giá trị cốt lõi ấy; còn cách thức để hiện thực hóa chúng phải luôn đổi mới theo yêu cầu của từng thời đại.

NĐT: Đất nước đang đứng trước vận hội phát triển mới, theo ông đâu là điều quan trọng nhất để thực hiện được khát vọng Việt Nam trong kỷ nguyên mới?

GS.Vũ Minh Giang: Trong kỷ nguyên mới, điều quan trọng nhất để thực hiện khát vọng xây dựng một đất nước hùng cường, đưa dân tộc đi tới phồn vinh, Việt Nam phải tạo được một sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy phát triển, từ một quốc gia chủ yếu tận dụng các nguồn lực sẵn có trở thành một quốc gia biết tạo ra và làm chủ những nguồn lực mới. Đó là nguồn lực của con người, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế và sức mạnh văn hóa.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 4.

Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động cụ thể của mỗi người Việt Nam (Ảnh: Hữu Thắng).

Trước hết, phải đặt con người Việt Nam ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Một dân tộc muốn đi xa không thể chỉ dựa vào tài nguyên hay vốn đầu tư, mà phải dựa vào chất lượng con người, vào năng lực sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và khát vọng vươn lên của mỗi công dân. Vì vậy, giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao và xây dựng một xã hội trọng dụng người tài phải được coi là đầu tư cho tương lai.

Thứ hai, phải đổi mới thể chế để giải phóng mọi nguồn lực phát triển. Đặc biệt phải khai thác triệt để nguồn lực nhân tài. Cần tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp, các nhà khoa học được tự do sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Thứ ba, Việt Nam phải tận dụng thời cơ của khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, đồng thời không đánh mất những giá trị làm nên bản sắc Việt Nam. Trong lịch sử, dân tộc ta luôn biết tiếp thu tinh hoa bên ngoài nhưng đồng thời biến những yếu tố ngoại lai thành nguồn lực của chính mình. Kỷ nguyên mới cũng đòi hỏi năng lực ấy ở một tầm cao hơn.

Và cuối cùng, khát vọng Việt Nam chỉ có thể trở thành hiện thực khi có sự đồng lòng của toàn dân tộc. Tôi cho rằng điều chúng ta cần nhất hôm nay là biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động cụ thể của mỗi người Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh khi dân tộc có chung một mục tiêu và biết tập hợp sức mạnh, những điều tưởng như rất khó đều có thể trở thành hiện thực.

Chủ động nắm bắt và tận dụng sức mạnh của thời đại

NĐT: Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh 2/9, khi nhìn lại những thành tựu đã đạt được sau 41 năm Đổi mới, theo ông bài học lịch sử quan trọng nhất mà Việt Nam cần phát huy trong chặng đường phát triển sắp tới là gì, để vừa giữ vững những thành quả đã đạt được, vừa tạo ra những bước phát triển mới?

GS.Vũ Minh Giang: Bài học lịch sử quan trọng nhất mà Việt Nam cần tiếp tục phát huy trong chặng đường phát triển sắp tới là luôn biết dựa vào sức mạnh của dân tộc, đồng thời chủ động nắm bắt và tận dụng sức mạnh của thời đại.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 5.

Quang cảnh lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9/2025 (Ảnh: Hữu Thắng).

Nhìn lại 41 năm Đổi mới, thành công lớn nhất không chỉ nằm ở những con số về kinh tế hay mức sống, mà sâu xa hơn là chúng ta đã hình thành được một tư duy phát triển năng động, biết nhìn thẳng vào thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và mạnh dạn đổi mới khi những cơ chế cũ không còn phù hợp.

Lịch sử Việt Nam cho thấy, trong những thời điểm bước ngoặt, dân tộc ta luôn có khả năng đoàn kết, thích ứng và lựa chọn đúng hướng đi. Đổi mới chính là một minh chứng nổi bật. Chúng ta không phủ nhận những giá trị đã có, mà đổi mới trên cơ sở kế thừa, phát huy những gì phù hợp và mạnh dạn thay đổi những gì cản trở sự phát triển. Bài học ấy hôm nay càng có ý nghĩa khi đất nước bước vào một thời kỳ cạnh tranh và biến đổi rất nhanh.

Điều cần phát huy trong giai đoạn mới là tinh thần đổi mới không ngừng, nhưng đổi mới phải dựa trên nền tảng lịch sử, văn hóa và lợi ích lâu dài của dân tộc. Cần khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, phát huy trí tuệ và sức sáng tạo của người dân, doanh nghiệp và đội ngũ trí thức; đồng thời xây dựng một thể chế đủ năng động để mỗi nguồn lực của xã hội được giải phóng và phát huy.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 6.
GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 7.
GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 8.

Hà Nội rực rỡ sắc đỏ trước ngày Quốc khánh 2/9 (Ảnh: Hữu Thắng).

Giữ vững thành quả của Đổi mới không có nghĩa là bằng lòng với những gì đã đạt được. Bảo vệ thành quả tốt nhất chính là tiếp tục tạo ra những thành quả mới. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam phải chuyển từ lợi thế về nguồn lực và quy mô sang lợi thế về chất lượng, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực sáng tạo. Nếu kết hợp được bản lĩnh của một dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử với tư duy đổi mới và tinh thần hội nhập của thời đại, tôi tin rằng Việt Nam có đủ cơ sở để biến khát vọng phát triển thành hiện thực.

Điều quan trọng nhất là trong chặng đường phát triển sắp tới phải có niềm tin và bản lĩnh khi tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại, đồng thời biết biến những gì mình đang có thành lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.

GS.Vũ Minh Giang: Biến khát vọng phát triển thành niềm tin, trách nhiệm và hành động- Ảnh 9.

Cần biến những gì đang có thành lợi thế cạnh tranh của Việt Nam (Ảnh: Hữu Thắng).

Trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng khoa học-công nghệ hiện nay, càng phải có sự tự tin ấy: không mặc cảm vì đi sau, nhưng cũng không tự mãn với những gì đang có.

Từ con người Việt Nam cần cù, thông minh, có khả năng thích ứng; từ truyền thống văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc; từ vị trí địa chiến lược, thị trường, nguồn lực và những thành tựu đã tích lũy qua Đổi mới, nếu biết tổ chức và kết nối thành những năng lực cạnh tranh mới, chúng ta sẽ tạo được sức mạnh riêng và luôn giành được thắng lợi trong cuộc cạnh tranh phát triển.

NĐT: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của Giáo sư.

Cảm ơn bạn đã quan tâm đến nội dung trên. Hãy tặng sao để tiếp thêm động lực cho tác giả có những bài viết hay hơn nữa.
Đã tặng: 0 star
Tặng sao cho tác giả
Hữu ích
5 star
Hấp dẫn
10 star
Đặc sắc
15 star
Tuyệt vời
20 star

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.