Sự phát triển nhanh của các đô thị và khu công nghiệp kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn, trong khi tài nguyên nước chịu áp lực từ khai thác, ô nhiễm và biến đổi khí hậu. Với Tp.Đồng Nai, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ là nhiệm vụ môi trường mà còn là điều kiện quan trọng để duy trì sức cạnh tranh, thu hút đầu tư và phát triển đô thị bền vững.
An ninh nguồn nước trước sức ép đô thị hóa
Theo kết quả rà soát bước đầu, Tp.Đồng Nai có 46 sông, suối thuộc các lưu vực liên quốc gia, liên tỉnh và 137 sông, suối thuộc các lưu vực nội tỉnh có chiều dài từ 10 km trở lên. Tổng chiều dài các đoạn sông, suối được thống kê khoảng 2.705 km, với diện tích lưu vực tương ứng khoảng 9.635 km².

Hệ thống sông Đồng Nai giữ vai trò quan trọng trong cung cấp nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và duy trì hệ sinh thái khu vực.
Mạng lưới sông, suối và hồ cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, thủy lợi, thủy điện, đồng thời góp phần duy trì hệ sinh thái và bảo vệ môi trường. Các nguồn nước chính gồm sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn, khu vực sông Thị Vải cùng các sông, suối chịu ảnh hưởng thủy triều ở phía Nam.
Ông Trần Trọng Toàn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tp.Đồng Nai cho biết, sau khi ổn định sắp xếp cơ quan hành chính, công tác quản lý tài nguyên nước tiếp tục được tăng cường, thực hiện đồng bộ theo Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Hiện Sở đang rà soát, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước, hoạt động của các khu, cụm công nghiệp có nguy cơ tác động đến nguồn nước, nhất là lưu vực sông Đồng Nai. Các dự án, công trình và đề án liên quan đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương trước đây cũng được xem xét để đề xuất giải pháp quản lý phù hợp.
Theo ông Toàn, Thành phố định hướng quản lý, điều hòa, phân phối và sử dụng nước theo nguyên tắc tổng hợp từng lưu vực sông, gắn với kịch bản nguồn nước và phương án ứng phó biến đổi khí hậu. Trong đó, ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Văn Nghĩa, Trưởng phòng Lưu vực sông Đông Nam Bộ, Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, Việt Nam có tiềm năng tài nguyên nước tương đối lớn nhưng phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian. Đáng chú ý, khoảng 60% tổng lượng nước đến từ ngoài lãnh thổ, khiến an ninh nguồn nước còn phụ thuộc vào hoạt động khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia thượng nguồn.

Nguồn nước mặt là lợi thế quan trọng, đồng thời đặt ra yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa tại Tp.Đồng Nai.
Đối với lưu vực sông Đồng Nai, áp lực càng rõ nét khi đây là một trong những lưu vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Nam Bộ.
Theo số liệu Cục Quản lý tài nguyên nước tổng hợp, chỉ số căng thẳng nguồn nước tại lưu vực sông Đồng Nai đạt 23,31 khi tính cả năm, nhưng tăng lên 58,78 trong mùa cạn. Đây là lưu vực duy nhất trong 13 lưu vực sông lớn được đánh giá ở mức căng thẳng nghiêm trọng vào mùa cạn.
Cơ cấu sử dụng nước tại lưu vực này gồm khoảng 48% cho nông nghiệp, 40% cho công nghiệp và dịch vụ, 12% cho sinh hoạt. Đáng chú ý, khoảng 91% công suất cấp nước đô thị phụ thuộc vào nguồn nước được điều tiết từ hồ chứa. Điều này cho thấy nguy cơ thiếu nước mùa khô có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân nếu thiếu phương án điều hòa hợp lý.
Quản trị nước thông minh, kiến tạo hạ tầng xanh
Theo TS. Nguyễn Văn Nghĩa, cần chuyển từ tư duy quản lý tài nguyên nước theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp theo lưu vực sông. Cách tiếp cận này giúp các địa phương, ngành và đơn vị khai thác phối hợp, cân đối nhu cầu sử dụng, hạn chế tình trạng phát triển riêng lẻ, thiếu liên kết.
Một trong những công cụ quan trọng là xây dựng kịch bản nguồn nước, kế hoạch khai thác, sử dụng và phương án điều hòa, phân phối theo Luật Tài nguyên nước năm 2023. Trên cơ sở kịch bản nguồn nước hằng năm do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, các địa phương chủ động phương án cấp nước, ứng phó hạn hán, thiếu nước và phối hợp điều chỉnh vận hành hồ chứa, liên hồ chứa khi cần thiết.

Hồ Trị An là công trình thủy lợi, thủy điện quan trọng, góp phần điều tiết nguồn nước, cung cấp nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và duy trì hệ sinh thái lưu vực sông Đồng Nai.
Đối với Tp.Đồng Nai, phối hợp vận hành các hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm nguồn nước cho khu vực hạ du, đô thị và khu công nghiệp. Đây cũng là điều kiện để hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái, duy trì dòng chảy môi trường.
Cùng với đó, chuyển đổi số cần trở thành trụ cột trong xây dựng hạ tầng xanh. Việc mở rộng hệ thống quan trắc, giám sát tự động tại các công trình khai thác, sử dụng nước sẽ giúp cơ quan quản lý theo dõi diễn biến nguồn nước. Cơ sở dữ liệu thống nhất, kết nối liên ngành và liên tỉnh tạo nền tảng dự báo, cảnh báo sớm nguy cơ hạn hán, thiếu nước và ô nhiễm.
Đặc biệt, trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) có thể được ứng dụng để phân tích kịch bản nguồn nước, hỗ trợ lựa chọn phương án vận hành hồ chứa và phân bổ nước phù hợp từng thời điểm. Qua đó, công tác quản lý từng bước chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động dự báo, điều tiết.
Một giải pháp khác là thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm, tuần hoàn và tái sử dụng, nhất là tại các khu công nghiệp. Doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ, kiểm soát thất thoát, tăng cường xử lý và tái sử dụng nước sau sản xuất nhằm giảm áp lực lên nguồn nước tự nhiên.

Bảo đảm nguồn nước ổn định cho các khu công nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng để duy trì sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Theo TS. Nguyễn Văn Nghĩa, bảo đảm an ninh nguồn nước không thể chỉ dựa vào việc gia tăng công trình khai thác, trữ nước mà cần phương thức quản trị hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành, địa phương.
Trong bối cảnh Tp.Đồng Nai bước vào giai đoạn phát triển mới, hạ tầng xanh không chỉ là cây xanh, mặt nước hay cảnh quan đô thị mà còn bao gồm hệ thống quản trị tài nguyên, công trình điều tiết, mạng lưới cấp nước và công nghệ giám sát đồng bộ.
Đầu tư cho hạ tầng xanh chính là đầu tư cho khả năng chống chịu của đô thị, sức cạnh tranh của khu công nghiệp và chất lượng sống của người dân trong tương lai.