12. Nhà thơ Nguyễn Duy
Phòng vẽ của tôi chứa đầy phác thảo, chân dung và ảnh của Nguyễn Duy. Ông thường chụp cùng một người bạn. Tuy nhiên không có bức ảnh nào lột tả được ông hoàn toàn. Rồi tôi nhận ra rằng đó là bởi vì Nguyễn Duy luôn chuyển động, luôn làm gì đó, luôn nói chuyện, cười đùa, ngồi ở sân sau nhà chúng tôi châm thuốc lá.
Tôi vẫn nhớ lần tới thăm ông, mặc dù sau tai nạn xe máy ông bị gãy chân, ông vẫn tự ngồi dậy và tự di chuyển quanh chiếc bàn gỗ lớn trong nhà ông. Tôi nhớ lần ở Connecticut ông đặt những vật dụng từ quê nhà, những chiếc giỏ mây, thìa, chiếu quanh căn phòng của một trường trung học, giới thiệu với học sinh rằng ngay lúc đó những vật này có thể chỉ đơn giản là những thứ vô sinh nhưng với hơi thở của thi ca chúng có thể trở nên sống động. Trong bức chân dung, tôi cố gắng làm cho ông dừng lại dù chỉ là một khoảnh khắc để chúng ta có thể thấy được ông, một cậu bé tại một ngôi làng ở Thanh Hóa đang quan sát chiếc xe kéo của ông mình đi xa dần qua quả đồi, một người lính nhìn xuống một lối đi vắng, một nhà thơ nhìn vào chính khuôn mặt mình đang nhìn lại ông từ Đài tưởng niệm cựu binh Việt Nam.
Nhà thơ Nguyễn Duy
13. Nhà văn Ma Văn Kháng
Những gì tôi nhớ về Ma Văn Kháng thường là những buổi sáng hoặc chiều tại văn phòng. Chúng tôi ít khi có thời gian nói chuyện riêng với nhau, nhưng tôi biết các tác phẩm của ông nằm trong số các tác phẩm quan trọng nhất được viết tại Việt Nam. Có lẽ đó là lý do khi tôi vẽ chân dung ông tôi nhận ra rằng đó là bức chân dung về một họa sĩ cố gắng nhìn vào vấn đề của mình cũng như là một bức chân dung của Ma Văn Kháng. Cũng giống như Trung Trung Đỉnh, tôi cảm nhận được rằng ông là một nhà văn có nguyên tắc và nhiều cống hiến. Một nhà văn không bao giờ ngừng, luôn cống hiến các tác phẩm, các nguyên tắc của mình, cảm thấy sung sức nhất khi sáng tác và khi ở quanh các đồng nghiệp và những người xung quanh.
Nhà văn Ma Văn Kháng
14. Nhà thơ Ý Nhi
Ý Nhi dường như luôn mang theo mình một nguồn sức mạnh. Một sức mạnh và sự ngay thẳng. Bà gần như một nhân vật bước ra từ truyện cổ tích. Trong tâm trí tôi bà là một trong những nhà thơ có mối liên hệ lớn nhất với thơ của mình. Tôi nghĩ về Người đàn bà ngồi đan và Thư gửi con.
Tôi không bao giờ quên lần bà đọc thơ cùng Demetria Martinez tại Thư viện công cộng Boston hoặc tại Santa Fe, đọc thơ tại trung tâm Lannan, hình ảnh bà xuất hiện trên sự trống trải của sa mạc, những ngôi làng người da đỏ. Trong bức chân dung tôi cố gắng nắm bắt lấy tư thế khi bà chuẩn bị phát biểu, hình ảnh một người phụ nữ phá vỡ những khuôn mẫu và thần thoại cũ, truyền tải tới chúng tôi những gì bền vừng, tốt và có giá trị, cách để bước đi ngay thẳng trên thế giới này.
Nhà thơ Ý Nhi
15. Nhà văn Lê Văn Thảo
Tôi đã tưởng rằng Thảo sẽ là người khó vẽ nhất. Sự nhiệt tình của ông luôn hiển hiện nhưng dường như dừng lại ở một đỉểm, một ranh giới. Tôi vẫn nhớ một đêm đọc sách tại Dorchester tại sảnh một nhà thờ. Đó là câu chuyện của ông về một trận lũ. Tôi đọc bản dịch khi ông đứng cạnh tôi. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác khi ông hiện diện ở đó, cảm nhận sức mạnh của sự hiện diện đó, sức mạnh của một người biết rằng sẽ không thể nào kể được một câu chuyện như thế, bất cứ câu chuyện nào, theo cách mà những người khác có thể hoàn toàn hiểu được. Nhưng ông đã ở đó, tại một điểm dừng, sẵn sàng với thử thách.
Trong chân dung ông, tôi cố gắng thể hiện người đàn ông sống phía sau và xa hơn đôi mắt đó, một người đàn ông luôn ghi nhớ cái giá của chiến tranh, vẫn ngạc nhiên và xấu hổ trước hành động mà lòng tốt và sự tử tế của con người và tự nhiên có thể làm được.
Nhà văn Lê Văn Thảo
16. Nhà văn Lê Minh Khuê
Lê Minh Khuê là nhà văn nữ đầu tiên tới thăm chúng tôi. Tôi nhớ bà rất rõ từ hội nghị năm 1990 khi bà nghiêng người qua bàn và nhìn vào đoàn nhà văn Hoa Kỳ toàn đàn ông chúng tôi và hỏi “phụ nữ của các ông đâu?”.
Khi bà tới Hoa Kỳ, con gái tôi Lily mới chỉ hai tháng tuổi, rất nhiều kỷ niệm của tôi thời gian đó là về Khuê với hình ảnh bà bế con gái tôi. Có khoảng một tá nhà văn ở chung trong hai căn nhà cạnh nhau tại Dorchester trong vài tuần đó, sau mỗi cuộc hội thảo và đọc sách, họ thường ngồi ngoài hiên nhà mỗi buổi tối mát trời và đó là cuộc gặp gỡ lần đầu của những cựu binh phía “bên kia”.
Bản phác thảo này dựa trên một bức ảnh tôi chụp trong những ngày đó. Trong đó, Lê Minh Khuê, Carolyn Forche, Linda Vandervanter, một y tá tại Việt Nam trong chiến tranh, và Lady Borton ngồi quanh một bàn ăn trong bếp nhà tôi. Cái nhìn trên gương mặt mỗi người họ nói với tôi về khả năng chiến thắng của sự thân ái và lòng trắc ẩn chung sau nhiều năm chiến tranh. Tôi đã cố gắng đưa những đìều đó vào bức chân dung. Tôi đã thấy cũng cái nhìn đó nhiều năm sau khi Carolyn và Khuê gặp lại nhau tại Hà Nội.
Nhà văn Lê Minh Khuê
17. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ
Tô Nhuận Vỹ tới Boston cùng Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, và Nguyễn Quang Thiều vào một trong những mùa hè nóng nhất. Nóng tới nỗi không thể ngủ được nhiều đêm. Tôi biết ông đã rất nhớ nhà, nhớ vợ và ba cô con gái. Ông rất thích nói về họ khi ông bế con gái tôi Lily. Lúc đó có một nhóm ba hoặc bốn cô gái trẻ là sinh viên tại trường đại học và làm việc cùng chúng tôi, gia đình họ đến từ Huế. Họ rời Việt Nam khi còn rất nhỏ, họ luôn tập trung quanh ông để nói về gia đình mình. Tôi biết không có gì là Vỹ không làm vì gia đình ông. Ông và vợ đã phải rời nhà và trú ẩn trong hang trong chiến tranh. Sau khi bị thương nặng ông được đưa tới thành phố bởi một nhóm phụ nữ bảo vệ ông và tránh các cuộc ném bom. Tôi cố gắng đưa chút lịch sử đó vào chân dung ông, một người đàn ông biết rõ về chia sẻ nỗi đau và sự mất mát, một người luôn vui vẻ và cảnh giác để bảo vệ những gì ông yêu quý.
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ
18. Nhà văn Cao Tiến Lê
Tôi lấy hình ảnh này từ một tấm ảnh ở phía sau một cuốn sách của ông. Nó làm tôi nhớ đến bài phát biểu của ông vào năm 1990 khi ông nói về cảm giác là một người lính trong chiến tranh. Sự thật là chiến tranh cuối cùng cũng chỉ là giết chóc. Một điều gì đó để tự hào, cho dù mọi thứ có thay đổi theo năm tháng. Có điều gì đó hoành tráng và vĩ đại về khoảnh khắc đó, một cột mốc nhắc chúng tôi nhớ đến điều kết nối và chia rẽ chúng tôi, và những điều chưa nói nhưng chưa thể nói được. Hình ảnh của ông được ghi khắc vào bức tranh, một chuỗi những buổi gặp mặt, một người lính/nhà văn cuối cùng cũng được bình yên tại bàn làm việc của mình.
Nhà văn Cao Tiến Lê
19. Nhà văn Trung Trung Đỉnh
Trung Trung Đỉnh và tôi có vài điểm chung, một vài lần trong cuộc chiến ở An Khê, trên vùng cao miền Trung. Với tôi đó chỉ là một tuần, với Đỉnh đó là mười năm, khi mà dịch sốt rét bỏ ông lại đó với những người dân vùng cao khi mà đơn vị của ông từ miền Bắc đã chuyển đi. Ông phục vụ với tư cách người quan sát và liên lạc viên, người miền Bắc duy nhất trong đơn vị. An Khê dường như là một nơi ma quái đầy sương mù và những điều kỳ bí suốt vài ngày tôi ở đó trong cuộc chiến.
Tôi vẫn nhớ rằng mình đã rất ấn tượng với những bài thơ đầu tay của ông khi được ông chia sẻ. Ông đã đọc những bài thơ đó cùng Bruce Weigl trong một buổi tối đáng nhớ. Vài năm trước tôi tới thăm Trung Trung Đỉnh tại nhà ông. Lúc đó đã tối muộn và chúng tôi phải đi qua những con hẻm để tìm tới nhà ông. Tôi đã chụp ảnh ông tối hôm đó, nhưng cho dù đang ở giữa lòng Hà Nội, với tôi, ông dường như vẫn đang ở ngoài đó giữa rừng quan sát và quan sát như chỉ một nhà văn mới có thể. Những chuyển động của ông mang theo ánh sáng sống động nên ông cần phải di chuyển qua những khu rừng vùng cao trong suốt cuộc chiến. Tôi đã cố nắm bắt những điều đó trong bức chân dung.
Nhà văn Trung Trung Đỉnh
20. Nhà văn Phan Thị Vàng Anh
Lần đầu tôi gặp Phan Thị Vàng Anh, bà đang một mình tới Hoa Kỳ với học bổng của chương trình sáng tác Iowa. Bà đã tới trường đại học của chúng tôi để đọc tác phẩm. Căn phòng chứa đầy sinh viên và tất cả đều chú ý tới bà. Cũng giống như họ, tôi nghĩ tôi đã kinh ngạc trước sức mạnh, sự độc lập, và tự tin của bà với tư cách một bác sỹ, một nhà văn, một người phụ nữ tự đi nước ngoài một mình, hoàn toàn thoải mái với bản thân. Tuy nhiên vẫn có cảm giác có thứ gì đó chưa lộ ra. Tôi cố gắng nắm bắt lấy khoảng không kỳ bí xung quanh bà, sự hiện diện đầy thử thách và bí ẩn tôi muốn đưa vào tranh vẽ về bà.
Nhà văn Phan Thị Vàng Anh
21. Nhà văn Bảo Ninh
Khi vẽ Bảo Ninh, tôi cứ nhớ đến vài dòng trong bài thơ Trần Minh Hồ đọc tại hội nghị năm 1990, “sau trận chiến, khi tôi đi tìm một người bạn, tất cả những người khác đều là người lạ.” Tôi nghĩ tôi chưa bao giờ thấy cái nhìn tìm kiếm đó trên gương mặt Bảo Ninh. Có người nói rằng câu chuyện của ông về việc sống sót qua chiến tranh được viết trên gương mặt ông. Nhưng tôi vẫn không thể không cảm thấy rằng gương mặt đó vẫn đang tìm kiếm để viết một câu chuyện khác. Dù là truờng hợp nào thì vẫn có một luồng điện ông luôn mang theo, một nguồn năng lượng sẵn sang bùng nổ ngay cả trong những khoảnh khắc lặng lẽ, sẵn sàng tìm đường quay trở lại thế giới, vào từng câu chữ và những câu chuyện của ông. Đó là một sự bùng nổ mặc dù phần lớn rất thoải mái và đúng đắn. Tôi đã cố mang những điều này vào chân dung ông. Ông là chủ đề của rất nhiều bức chân dung, thậm chí cả bức vẽ đôi dép lê ông để lại nhà chúng tôi ở Dorchester.
Nhà văn Bảo Ninh
22. Nhà thơ Trần Đăng Khoa
Tôi nghĩ Trần Đăng Khoa là sức hút trung tâm của một nhóm nổi bật bao gồm Nguyễn Quang Thiều, Tô Nhuận Vỹ, và Phạm Tiến Duật. Khoa là một huyền thoại, tất nhiên, một nhà thơ thiếu niên trong chiến tranh, thơ ông được đọc khắp các vùng quê. Người Pháp đã làm một bộ phim về ông. Ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý tới. Giờ đây khi đã trưởng thành hơn, ông dường như vẫn mang theo mình sự hồn nhiên của một cậu bé, được tôi luyện bởi sự thông thái ông đạt được qua thời gian. Trên thực tế, dường như ông luôn luôn có hai chiều, một gần như cổ điển, một lại rất trẻ trung. Bât kể quá khứ của mình, ông không tỏ ra dù chỉ một chút huyênh hoang kiêu ngạo. Tôi vẫn nhớ lần chứng kiến ông làm việc cùng Fred Marchant ở một phòng phía sau trung tâm, bắt đầu dịch bài thơ “Con Cò Trắng Muốt” của ông. Hai người đàn ông trưởng thành, cùng một lúc trông họ như cậu nam sinh trẻ và những nhà sư già. Tôi cũng cố đưa những điều đó vào bức vẽ.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa
(Còn nữa)
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều