Sáng 30/9, tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 6, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tóm tắt tờ trình.
Về cơ sở thực tiễn sửa đổi luật, tờ trình của Chính phủ nêu rõ, thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, ngày càng khẳng định vai trò là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển mới của đất nước.
Việc sửa luật lần này sẽ hoàn thiện quy định về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn (Ảnh: Media Quốc hội).
Theo đó, về mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Bộ trưởng cho biết, thể chế hóa Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị, dự thảo luật nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường theo lộ trình, đánh giá đầy đủ tác động, đảm bảo công khai, minh bạch, thống nhất, không phân biệt đối xử.
Khắc phục hạn chế của danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường. Thúc đẩy nâng hạng thị trường chứng khoán.
Đối với đổi mới ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số. Dự thảo luật Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ: Phát triển chuỗi cung ứng, sản xuất, cải tiến sản phẩm, công nghệ; đầu tư ban đầu, tạo tài sản cố định; hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ. Chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang hỗ trợ gắn với hiệu quả dự án, quản trị vòng đời và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Bổ sung miễn, giảm tiền sử dụng biển.
Hoàn thiện đối tượng, nguyên tắc, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt. Dự thảo luật cho phép Chính phủ quyết định gói vượt trội gắn với kết quả thực hiện cam kết đối với một số dự án cần thu hút, tác động lan tỏa.
Hỗ trợ chuyển đổi, phát triển khu công nghiệp sinh thái thông qua khấu hao nhanh cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, chứng nhận sinh thái và doanh nghiệp sinh thái.
Thời hạn dự án trong khu có thể kéo dài nhưng không vượt quá 70 năm. Hướng tới tỉ lệ khu công nghiệp sinh thái khoảng 10% trên tổng số khu công nghiệp trên cả nước.

Quang cảnh phiên họp (Ảnh: Media Quốc hội).
Cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khả năng ngân sách và định hướng phát triển, quyết định hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lao động tại cơ sở của doanh nghiệp trong và ngoài nước; quy định tiêu chí, điều kiện, thủ tục, mức hỗ trợ không vượt trần của Chính phủ quy định.
Giao Chính phủ quy định chi tiết về mô hình, địa vị pháp lý, nguồn vốn ngân sách, đối tượng, tiêu chí, điều kiện, thủ tục, mức hỗ trợ, hoàn trả chi phí và chính sách đặc thù của Quỹ hỗ trợ đầu tư, không phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành.
"Định hướng thu hút đầu tư theo địa bàn, vùng động lực, cực tăng trưởng. Ưu tiên công nghệ cao, xanh, hiện đại, giá trị gia tăng. Vùng vệ tinh tập trung chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ hỗ trợ. Địa bàn khác lựa chọn dự án phù hợp với lợi thế và từng bước nâng chất lượng", Bộ trưởng cho hay.
Cùng với đó, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Dự thảo luật hoàn thiện Cổng thông tin quốc gia, hỗ trợ giám sát, kiểm tra, đánh giá. Đổi mới hỗ trợ các dự án và mục tiêu xúc tiến đầu tư. Ưu đãi, hỗ trợ đảm bảo đầu tư phải hài hòa với lợi ích Nhà nước, nhà đầu tư, doanh nghiệp. Tăng tự chủ chiến lược, đảm bảo quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Thẩm tra sơ bộ dự án luật, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, đa số ý kiến Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Kết luận số 18; đồng thời tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách.