
Luật Xây dựng 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Luật Xây dựng 2025 (có hiệu lực từ 1/7/2026) quy định nhiều điểm mới về xây dựng công trình. Trong đó, Điều 43 Luật Xây dựng 2025 quy định chi tiết về cấp giấy phép xây dựng. Cụ thể:
Điều 43. Quy định chung về cấp giấy phép xây dựng
1. Giấy phép xây dựng bao gồm các loại sau đây:
a) Giấy phép xây dựng mới;
b) Giấy phép sửa chữa, cải tạo, di dời công trình;
c) Giấy phép xây dựng có thời hạn.
2. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng trừ các trường hợp sau đây:
a) Công trình bí mật nhà nước; công trình xây dựng khẩn cấp, cấp bách; công trình thuộc dự án đầu tư công đặc biệt; công trình thuộc dự án đầu tư theo thủ tục đầu tư đặc biệt; công trình xây dựng tạm theo quy định tại Luật này; công trình xây dựng tại khu vực đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về đất đai;
b) Công trình thuộc dự án đầu tư công được Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của tổ chức chính trị - xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư xây dựng;
c) Công trình xây dựng theo tuyến trên địa bàn từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên; công trình xây dựng theo tuyến ngoài khu vực được định hướng phát triển đô thị, được xác định theo quy hoạch đô thị và nông thôn hoặc quy hoạch chi tiết ngành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận phương án tuyến;
d) Công trình trên biển thuộc dự án đầu tư xây dựng ngoài khơi đã được cấp có thẩm quyền giao khu vực biển để thực hiện dự án; cảng hàng không, công trình tại cảng hàng không, công trình bảo đảm hoạt động bay ngoài cảng hàng không;
đ) Công trình quảng cáo không thuộc đối tượng phải cấp giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về quảng cáo; công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động;
e) Công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh và đã được phê duyệt theo quy định;
g) Công trình xây dựng cấp IV, công trình nhà ở riêng lẻ có quy mô dưới 7 tầng có tổng diện tích sàn xây dựng dưới 500 m2 và không thuộc một trong các khu vực: khu chức năng, khu vực phát triển đô thị được xác định trong quy hoạch chung thành phố; khu chức năng, khu dân cư nông thôn, khu vực phát triển đô thị được xác định trong quy hoạch chung đô thị thuộc tỉnh, thuộc thành phố, quy hoạch chung khu kinh tế, khu du lịch quốc gia; khu vực xây dựng được xác định trong quy hoạch chung xã; khu vực đã có quy chế quản lý kiến trúc;
h) Công trình sửa chữa, cải tạo bên trong công trình hoặc công trình sửa chữa, cải tạo mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nội dung sửa chữa, cải tạo không làm thay đổi mục đích và công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng đến an toàn kết cấu chịu lực của công trình, bảo đảm yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, khả năng kết nối hạ tầng kỹ thuật.
3. Trước khi khởi công xây dựng, chủ đầu tư xây dựng công trình quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều này phải thực hiện gửi thông báo khởi công xây dựng (trừ công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng khẩn cấp, cấp bách, công trình xây dựng tạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, công trình nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân) đến cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng có thẩm quyền tại địa phương nơi công trình được xây dựng theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để quản lý, cụ thể như sau:
a) Gửi thông báo khởi công xây dựng đối với công trình quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này;
b) Gửi thông báo khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ tương ứng với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo quy định (không bao gồm Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng) đối với công trình quy định tại các điểm a, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều này.
Riêng Hà Nội sẽ thí điểm miễn giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ tại 126 xã, phường trong 100 ngày, tiến tới chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và quản lý bằng dữ liệu.
UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 277/KH-UBND triển khai đợt cao điểm 100 ngày thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số thành phố. Theo kế hoạch, đợt cao điểm được triển khai trong 100 ngày kể từ ngày 14/7/2026, với yêu cầu thực hiện đồng bộ, quyết liệt, không chấp nhận lùi tiến độ, không chấp nhận báo cáo hoàn thành khi chưa tạo ra sản phẩm cụ thể. Mọi nhiệm vụ đều phải thực hiện theo nguyên tắc "6 rõ", gồm rõ việc, rõ người chịu trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ nguồn lực và rõ cơ chế kiểm tra, xử lý trách nhiệm.
Mục tiêu trọng tâm của kế hoạch là hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của thành phố, gồm: dữ liệu chưa bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống" chưa được kết nối, chia sẻ và tái sử dụng hiệu quả; hệ thống thông tin, nền tảng số còn phân tán, chưa phát huy hiệu quả dùng chung…
Đáng chú ý, trong thời gian 100 ngày kể từ khi kế hoạch được ban hành, Hà Nội sẽ triển khai đồng bộ nhiều nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, thành phố sẽ làm sạch, di trú, tích hợp, chuẩn hóa nhóm dữ liệu thiết yếu, trọng điểm về kho dữ liệu dùng chung của thành phố.
Đặc biệt, Hà Nội sẽ thí điểm miễn giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ tại 126 xã, phường. Cạnh đó, thành phố còn áp dụng cơ chế "im lặng là đồng ý" khi quá thời hạn lấy ý kiến đối với thủ tục hành chính lấy ý kiến liên ngành.
Theo quy định của luật Xây dựng 2025, nhà ở riêng lẻ dưới 7 tầng là một trong 8 nhóm công trình được miễn giấy phép xây dựng.
Để được miễn giấy phép, nhà ở riêng lẻ phải tổng diện tích sàn dưới 500 m2, đồng thời không thuộc các khu vực có quy định quản lý kiến trúc như khu chức năng, khu đô thị, khu dân cư nông thôn, quy hoạch chung khu kinh tế, khu du lịch quốc gia, khu vực đã có quy chế quản lý kiến trúc…
Trước khi xây dựng, chủ đầu tư gửi thông báo khởi công xây dựng đến cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng có thẩm quyền tại địa phương để quản lý.
Hồ sơ thông báo khởi công xây dựng tương ứng với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo quy định (không bao gồm đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng).
Quỳnh Chi (t/h)