Quy định mới nhất về khai báo tạm vắng, người dân cần biết

Chủ nhật, 26/07/2026 04:00 GMT+7

Nhiều người thắc mắc, việc khai báo tạm vắng được thực hiện thế nào theo quy định mới?

Điều 15, Thông tư 116/2026/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026) quy định về khai báo tạm vắng như sau:

1. Việc khai báo tạm vắng đối với trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Cư trú được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia;

b) Thông qua Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).

2. Việc khai báo tạm vắng đối với trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 31 Luật Cư trú được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông qua số điện thoại, trang thông tin điện tử của cơ quan đăng ký cư trú hoặc hộp thư điện tử do cơ quan đăng ký cư trú thông báo hoặc niêm yết;

b) Thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).

3. Người phải khai báo tạm vắng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Cư trú là người chưa thành niên thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục khai báo tạm vắng.

Quy định mới nhất về khai báo tạm vắng, người dân cần biết - Ảnh 1.

Ảnh minh họa (Nguồn: Báo điện tử Chính phủ)

4. Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm rà soát, cập nhật thông tin tạm vắng đối với công dân đang thực hiện nghĩa vụ trong Công an nhân dân; phối hợp với ban chỉ huy quân sự cùng cấp rà soát, cập nhật thông tin tạm vắng đối với công dân đang thực hiện nghĩa vụ trong Quân đội nhân dân vào Cơ sở dữ liệu về cư trú.

5. Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thông báo hoặc niêm yết công khai số điện thoại, địa chỉ hộp thư điện tử, địa chỉ trang thông tin điện tử của cơ quan đăng ký cư trú (nếu có), Cổng dịch vụ công quốc gia, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để tiếp nhận khai báo tạm vắng.

Bên cạnh đó, Điều 12 Thông tư 116/2026/TT-BCA quy định về đăng ký tạm trú như sau:

1. Công dân thay đổi chỗ ở ngoài nơi đã đăng ký tạm trú có trách nhiệm thực hiện đăng ký tạm trú mới.

Trường hợp chỗ ở đó trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này.

2. Học sinh, sinh viên, học viên đến ở tập trung trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên; người lao động đến ở tập trung tại các khu nhà ở của người lao động, khu lán trại công trường xây dựng, nông trường, nông trại, đồn điền; người hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sinh sống trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo; trẻ em, người khuyết tật, người không nơi nương tựa được nhận nuôi và sinh sống trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo; người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp tại cơ sở trợ giúp xã hội có thể thực hiện đăng ký tạm trú thông qua cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp chỗ ở đó.

Cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp có trách nhiệm lập danh sách người tạm trú, kèm Tờ khai thay đổi thông tin cư trú của từng người, văn bản đề nghị đăng ký tạm trú trong đó ghi rõ thông tin về chỗ ở hợp pháp và được cơ quan đăng ký cư trú cập nhật thông tin về nơi tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú.

Danh sách bao gồm những thông tin cơ bản của từng người: họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; số định danh cá nhân và thời hạn tạm trú.

3. Trường hợp người thuê, mượn, ở nhờ chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ thì người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đăng ký cư trú để thực hiện xóa đăng ký tạm trú.

Minh Hoa (t/h)

Cảm ơn bạn đã quan tâm đến nội dung trên. Hãy tặng sao để tiếp thêm động lực cho tác giả có những bài viết hay hơn nữa.
Đã tặng: 0 star
Tặng sao cho tác giả
Hữu ích
5 star
Hấp dẫn
10 star
Đặc sắc
15 star
Tuyệt vời
20 star

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.