Chất lượng nhân lực quyết định chất lượng du lịch
Sáng 28/8, tại Hội thảo Khoa học Quốc tế "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" tổ chức phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai; TS. Hà Văn Siêu- Cục phó Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho hay, du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, tính chuyên nghiệp, yếu tố xanh, thông minh và sức cạnh tranh quốc tế.
Trong đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đã xác định rõ mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, đồng thời đặt yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp.

TS. Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam.
"Hạ tầng hiện đại hay sản phẩm hấp dẫn đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ để phát triển du lịch chất lượng đó là người lao động trực tiếp tạo ra trải nghiệm, cảm xúc và giá trị tăng thêm cho du khách. Dịch vụ tốt cần kỹ năng chuyên nghiệp, nhưng trải nghiệm đáng nhớ cần sự tinh tế, sáng tạo, tận tâm. Những điều này thì công nghệ, máy móc hay như bây giờ là trí tuệ nhân tạo (AI) không thể làm thay được", ông nhận định.
Theo ông, từ thực tế này, ngành du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ đào tạo người biết làm nghề, mà phải đào tạo những con người có khả năng thích ứng và kiến tạo tương lai. Đó là năng lực thích ứng trước sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ biết khai thác dữ liệu, nền tảng số và AI để nâng cao năng suất và chất lượng phục vụ. Và cuối cùng là năng lực xanh, biết phát triển du lịch hài hòa với thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản và phát huy giá trị văn hóa.

Du khách tham quan, check-in tại Eo Gió - một điểm đến nổi tiếng của Gia Lai.
"AI có thể hỗ trợ mô phỏng tình huống nghề nghiệp, hỗ trợ học ngoại ngữ, phân tích dữ liệu, cá nhân hóa việc học và hỗ trợ giảng viên, người học. Nhưng không thể thay thế lòng hiếu khách, sự đồng cảm, cảm xúc và trái tim của người làm du lịch", ông Siêu khẳng định.
Và theo TS. Hà Văn Siêu, để tạo dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới, cần một hệ sinh thái đào tạo với sự tham gia của bốn chủ thể: Nhà nước định hướng thể chế; nhà trường cung cấp nền tảng tri thức, kỹ năng; doanh nghiệp đào tạo và tạo môi trường thực hành; hiệp hội kết nối, phản ánh nhu cầu thị trường.
Và trong bức tranh đào tạo nhân lực này, ông cho rằng doanh nghiệp không chỉ sử dụng lao động mà còn tham gia với vai trò chủ thể đồng hành đào tạo, xem đầu tư cho nhân lực chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo TS. Hà Văn Siêu, người làm du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới cần chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế nhưng phải giữ được bản sắc Việt. Thành thạo công nghệ nhưng giàu cảm xúc, năng động, sáng tạo và nhân văn. Đầu tư cho nhân lực chính là đầu tư cho vị thế của du lịch Việt Nam trong tương lai.
Gia Lai từ lợi thế của vùng đất "2 trong 1" đến bài toán đào tạo nhân lực chất lượng cao

PS.TS. Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Liên chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam.
GS.TS Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Liên chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam nhìn nhận, sau sáp nhập, Gia Lai trở thành một tỉnh có diện tích lớn thứ 2 cả nước, sở hữu lợi thế hiếm khi có cả núi và biển. Năm du lịch Quốc gia - Gia Lai 2026 đã mang tới những trải nghiệm của một không gian du lịch mới với Biển Hồ, núi lửa Chư Đăng Ya, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, không gian văn hóa Công chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận, đến 134 km bờ biển, di tích Champa, võ cổ truyền Bình Đinh… Với lợi thế này, theo GS.TS Đào Mạnh Hùng, Gia Lai như "bảo tàng sống" của văn hóa của đại ngàn và duyên hải.

Ông Nguyễn Văn Ý, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai.
Từ nền tảng đang có, Gia Lai đã xác định du lịch là một trong năm trụ cột kinh tế, đặt mục tiêu tới năm 2030 đón 18,5 triệu lượt khách, trong đó có hơn 1 triệu lượt khách quốc tế. Song như báo cáo đề dẫn mà GS.TS Đào Mạnh Hùng nêu ra, hiện nay tỉ lệ lao động đào tạo chính quy về du lịch tại Gia Lai chưa đến 30% , nhân sự đạt chuẩn quốc tế thì rất hiếm.
Nhiều vị trí then chốt như quản lý khách sạn 5 sao, điều phối tour liên vùng biển - núi, hướng dẫn viên đa ngôn ngữ kết hợp hiểu sâu văn hóa bản địa, chuyên viên phân tích thị trường du lịch quốc tế đều phải tuyển dụng từ các tỉnh thành lớn. Thậm chí, ngay cả người dân tham gia du lịch cộng đồng ở các buôn làng Tây Nguyên hay các làng ven biển cũng chỉ được tập huấn nghiệp vụ cơ bản, thiếu kỹ năng phục vụ du khách quốc tế, hiểu biết về tiêu chuẩn dịch vụ toàn cầu.
"Nghịch lý này càng trở nên rõ ràng khi Gia Lai đăng cai Năm Du lịch quốc gia 2026 với chủ đề 'Đại ngàn chạm biển xanh' thu hút nhiều du khách quốc tế, nhưng chưa có đủ nhân lực để mang lại trải nghiệm đẳng cấp, giữ chân khách quay lại", ông nói.

Gia Lai cần nhân lực du lịch chuẩn quốc tế để nâng trải nghiệm và thu hút du khách trở lại.
Ông Nguyễn Văn Ý, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai, khẳng định phát triển nguồn nhân lực du lịch không còn là lựa chọn mà là yêu cầu sống còn để địa phương bứt phá trong kỷ nguyên vươn mình.
"Nguồn nhân lực cần được trang bị không chỉ kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số, khả năng thích ứng và năng lực làm việc đa văn hóa mới truyền tải hiệu quả giá trị đặc sắc bản địa đến du khách quốc tế. Đặc biệt, từ hội thảo này ngành du lịch tỉnh Gia Lai mong muốn được lắng nghe ý kiến đóng góp, giải pháp khả thi cho việc phát triển nhân lực du lịch chất lượng cao phù hợp với thực tế của Gia Lai trong giai đoạn tới", ông Ý cho hay.
Hội thảo Khoa học Quốc tế "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai, Liên Chi hội đào tạo du lịch Việt Nam, Hiệp hội Du lịch tỉnh Gia Lai, Trường Đại học Hùng Vương Tp.Hồ Chí Minh và Tổ chức giáo dục Thụy Sĩ Swiss Edu Hub phối hợp tổ chức.
Theo Ban tổ chức Hội thảo đã thu hút 180 bài tham luận từ các nhà khoa học, giảng viên và doanh nghiệp cả nước, xoay quanh 5 nhóm vấn đề: cơ sở lý luận và xu hướng quốc tế; chuẩn hóa đào tạo theo khung năng lực ASEAN; chuyển đổi số và mô hình liên kết "3 nhà"; bài toán nhân lực đặc thù vùng Tây Nguyên; chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao.
