Tại sao Phật lại từ bỏ hết tất cả? (1)

Tại sao Phật lại từ bỏ hết tất cả? (1)

Thứ 2, 11/11/2013 | 07:54
Khi Phật còn tại thế, Ngài thường dạy các đệ tử như sau: Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia cần phải tránh xa.

+ Một là đắm say các dục vọng, tham muốn thấp hèn, thô bỉ, có tính cách phàm phu tục tử, không dẫn đến đức hạnh Thánh nhân, không liên hệ đến mục đích tu tập, giác ngộ, giải thoát.

+ Hai là tự mình ép xác, khổ hạnh quá mức, làm thân đau đớn, mệt mỏi, tâm không được thanh tịnh, sáng suốt, không xứng đáng là bậc hiền Thánh, không liên hệ đến mục đích tu tập, giác ngộ, giải thoát.

 _ Này các Tỳ kheo, ai tu theo đạo giác ngộ, giải thoát, cần phải có chánh trí, tránh xa hai cực đoan này, biết quay trở lại pháp tu trung đạo, làm cho thân tâm hài hòa để thành tựu đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

 _ Này các Tỳ kheo, chúng ta hãy theo con đường Trung đạo do Như Lai tu tập, chứng ngộ, có khả năng chịu đựng sự khắc nghiệt trong mọi hoàn cảnh, có được tuệ giác thấu rõ mọi sự vật dẫn đến bình an, hạnh phúc, Niết Bàn và giải thoát.

 _ Này các Tỳ kheo, con đường Trung đạo, chính là 8 phương pháp nhiệm mầu, chánh đáng: Quan niệm chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, nỗ lực chân chính, ý niệm chân chính và thiền định chân chính. Đây là con đường trung đạo, do Như Lai thấy biết đúng như thật nhờ biết buông xả, nên phát sinh trí tuệ, đưa đến an lạc, hạnh phúc, thể nhập Niết Bàn, giải thoát.

Pháp thoại này Như Lai Thế Tôn nói khi đến vườn Nai để độ năm anh em Kiều Trần Như. Đức Phật khẳng định con đường trung đạo là con đường vượt lên trên hai cực đoan, hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác.

Như vậy, sự hưởng thụ, đắm say theo các cảm xúc khoái lạc giác quan mà đa số nhiều người cho đó là hạnh phúc cao nhất trần đời, những tham vọng trần tục, hay lối tu chịu cực khổ quá mức, đều không phải là chánh đạo, không liên hệ đến mục đích giải thoát.

Hưởng thụ khoái lạc giác quan là lối sống của đức Phật khi còn là hoàng thái tử, Ngài đâu có thiếu thốn thứ gì. Tại sao Phật vẫn từ bỏ hết tất cả, để rồi cuối cùng Ngài được tất cả. Suốt 49 năm giáo hóa độ sinh, Phật chỉ có ba y một bình bát, sống đời rày đây mai đó, tùy bệnh cho thuốc, giúp đỡ mọi người.

Với lối tu khổ hạnh ép xác, Phật đã từng khổ hạnh như thế suốt sáu năm dài đăng đẳng; cuối cùng, thân thể kiệt quệ, dẫn đến ngất xỉu, may nhờ có cô thôn nữ chăn bò giúp cho bát sữa, nên Ngài hồi tỉnh và chiêm nghiệm lại sự tu tập trong những năm qua; cuối cùng, Phật đã tìm ra con đường trung đạo. Đây cũng là kim chỉ nam tu tập cho tất cả những người con Phật, nhất là hàng xuất gia.

Cả hai cực đoan đều thấp kém, hạ liệt, đắm say trong các dục và tự mình hành xác khổ đau, đều không dẫn đến an lạc, hạnh phúc và giải thoát.

Thiền++ - Tại sao Phật lại từ bỏ hết tất cả? (1)

Con đường hưởng thụ dục lạc thế gian như chúng ta đã biết, trong cái vui đó luôn đi đôi với mầm móng khổ đau, nhưng lại vô thường, tạm bợ, mong manh. Vì sao? Vì thương yêu mà xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không được khổ và cuối cùng là chết khổ. Con đường khổ hạnh ép xác làm cho thân thể bại hoại, suy yếu, làm hành giả không đủ sáng suốt, minh mẫn, để hướng tâm vào mục đích giác ngộ, giải thoát.

Chính đức Phật đã trải qua hai lối sống đó, Ngài đã thật sự trải nghiệm trong tu tập chứ không phải lý thuyết suông do suy luận. Nhờ vậy, sau khi chứng ngộ, Phật đến vườn Nai để chỉ cho năm người bạn đồng tu khi xưa.

Từ xa, năm người này thấy Phật đang đi đến, họ nói với nhau rằng, “sa môn Cồ Đàm đã tu theo lối hưởng thụ rồi, chúng ta không nên tiếp”. Tuy đã thỏa thuận như thế, nhưng khi Phật đến, người thì lấy nước rửa chân, người thì mời ngồi và tất cả đều cung kính vái chào; và Phật đã nói, “con đường trung đạo là xa lìa hai cực đoan, hưởng thụ và ép xác”. Nhờ vậy, năm anh em đồng tu khi xưa chứng quả giác ngộ, giải thoát.

Như vậy, trong chừng mực nào đó, con đường trung đạo chính là con đường thiết lập lại quân bình, làm cho thân tâm được an ổn, hài hòa, và biết cách hướng tâm về mục đích. Muốn được như vậy, ta phải có cái nhìn sáng suốt, nghĩa là muốn ít, biết đủ, ăn vừa đủ để nuôi cơ thể, nhờ vậy thân mạnh khỏe, tâm sáng suốt, nên dễ dàng tu tập để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, hạnh phúc.

Trong bối cảnh ngày nay, con người văn minh, tiến bộ vượt bực, nền kinh tế xã hội phát triển vật chất dồi dào, nhờ đó mà chùa to Phật lớn được xây dựng theo kiến trúc hiện đại. Đời sống của người xuất gia được nâng cao với nhiều tiện nghi vật chất, phòng cao cửa kính, sang trọng, bề thế và nhiều nhu cầu xa hoa khác. Chúng ta có thể xem đó là lối sống trung đạo hay không? Cho nên, ta cần phải tìm hiểu lời Phật dạy cho rõ ràng, chín chắn, để biết cách áp dụng sao cho phù hợp với con đường trung đạo.

Quan trọng hơn hết, đức Phật đã dạy, tinh thần trung đạo của Ngài là thấy biết chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, nỗ lực chân chính, ý niệm chân chính và thiền định chân chính. Như vậy, ta tránh xa hai cực đoan chính là dẹp bớt những trở ngại có tính cách thái quá, sang trọng, vì nhiều tiện nghi vật chất quá thì khó tu. Nói chung, ta phải biết tùy thời, tuỳ duyên không nên quá cố chấp, để rơi vào trạng thái tham đắm, dính mắc, bằng cách muốn ít, biết đủ.

Cốt tủy của con đường này là thành tựu chánh kiến, thấu triệt được nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã, tất cả thân, tâm và cảnh đều do duyên hợp không thật có. Do đó, ta không chấp ngã, nên không chiếm hữu mà vượt thoát mọi sự ràng buộc của tham-sân-si, nhờ vậy không bị dính mắc vào cái ta và của ta, nên chứng ngộ Niết Bàn, giải thoát.

Ở cực đoan thứ nhất, lúc còn ở trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, Thái tử Sĩ Đạt Ta đã hưởng thụ đầy đủ mọi lạc thú trên trần đời này, với danh vọng, quyền uy tột đỉnh nhất trong thiên hạ. Với con mắt bình thường của chúng ta, ai cũng ước mơ và mong muốn để được tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ ấm, mặc sang, ở và làm việc được đầy đủ tiện nghi, vật chất.

Nhưng đối với Phật khi xưa, Ngài thấy những thứ đó là cạm bẫy cuộc đời, chôn vùi con người vào sự ràng buộc, bởi tham đắm, luyến ái vợ con, còn hơn gông cùm, ngục tối, vì khi hết hạn thì có ngày ra khỏi, còn hưởng thụ khoái lạc giác quan, luyến ái vợ con, coi như bị giam cầm mãi mãi từ đời này sang kiếp nọ không có ngày thôi dứt.

Ở cực đoan thứ nhất, đời sống lợi dưỡng và sự cám dỗ của ngũ dục như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều, thường làm chúng ta bám víu, chấp vào tự ngã là ta và của ta, nên khởi lên tham muốn chiếm hữu về mình. Cho nên, con người càng trở nên nhu nhược, yếu đuối, thấp hèn hơn, và cuối cùng sẽ không có thời gian, cơ hội để tu tập mà thể nhập con người tâm linh sáng suốt.

Ở cực đoan thứ hai, Ngài cùng tu khổ hạnh ép xác với năm anh em kiều Trần Như ròng rã suốt sáu năm trường, đến độ thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, tinh thần u ám, tâm tư không được minh mẫn, sáng suốt, nên không tìm ra lối thoát.

Thân và tâm là hai yếu tố quan trọng luôn liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau trong một cơ thể con người. Nếu ta luôn tỉnh giác hằng ngày, ý thức ba việc thường chớ đủ là ăn mặc, ngủ; hay nói cho đúng hơn, ta phải muốn ít, biết đủ, chỉ ăn uống điều độ vừa đủ để nuôi thân, làm việc, vận động hợp lý, ngủ nghỉ cho có chừng mực, nên thân khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, nhờ vậy mình dễ dàng buông xả mọi dính mắc trong cuộc đời mà thành tựu đạo pháp.

Nói tóm lại, đức Phật khi xưa đã trải qua hai cực đoan, hưởng thụ và hành xác, để rồi cuối cùng, dưới sự quyết tâm dũng mãnh của bản thân, Ngài đã vượt khỏi hai lối sống cực đoan mà thành tựu con đường trung đạo.  

Bát chánh đạo là tám con đường tâm linh mầu nhiệm chân chính. Tám nguyên tắc mầu nhiệm ấy có liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau như sau:
1.  Chánh kiến: là hiểu biết đúng đắn, hay thấy biết đúng như thật.
2.  Chánh tư duy:  Suy nghĩ, xem xét, chiêm nghiệm đúng.
3.  Chánh ngữ:  Nói lời chân thật, đúng lý lẽ.
4.  Chánh nghiệp:  Hành động chân chính.
5.  Chánh mạng:  Làm việc mưu sinh chân chính.
6.  Chánh tinh tấn:  Cần mẫn và nỗ lực chân chính.
7.  Chánh niệm:  Ý thức chân chính nhờ sự quán chiếu, soi rọi.
8.  Chánh định: kiên định tập trung tâm tư vào con đường chân chính, không để bất cứ điều gì lay chuyển, làm thoái chí, phân tâm.

CHÁNH KIẾN

Qua bài kinh Chuyển Pháp Luân của đức Phật, giảng tại vườn Nai cho năm anh em Kiều Trần Như nghe, Bát Chánh Đạo là nội dung chính Đức Phật muốn nói ra, khi Ngài đã lìa khỏi hai cực đoan. Đức Phật đã trải qua hai lối sống hưởng thụ lợi lạc, đam mê ái dục, danh lợi, quyền lực trong cung điện, và sáu năm tu khổ hạnh nhưng không tìm ra lối thoát. Ý nghĩa chính của con đường trung đạo là sự thức tỉnh và thấy biết đúng như thật của đức Phật qua hai kinh nghiệm từng trải trong đời, để rút ra một kết luận và khuyên nhủ mọi người đừng để bị rơi vào hai cực đoan ấy.

Thứ nhất là đắm mình trong dục lạc thế gian như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều, dẫn đến nguy hại, là một điều chúng ta cần phải tránh xa. Tự hành hạ mình bằng các hình thức tu khổ hạnh, ép xác, dẫn đến thân đau khổ, tâm u mê, không sáng suốt, tác hại vô cùng là điều ta không bao giờ nên làm.

Đức Phật cho thấy, cuộc sống của chúng ta ít bao giờ được hoàn hảo với bất cứ một ai. Ai cũng có một nỗi khổ, niềm đau riêng, bởi bản chất của con người trong xã hội, ai cũng đều có khát vọng, mong muốn, tìm cầu hưởng thụ tiện nghi vật chất. Khi những chướng duyên, nghịch cảnh của xã hội làm cho con người phiền muộn, đau khổ, họ sẽ tìm về với gia đình, người thân, mong được an ủi, sẻ chia và nâng đỡ.

Đức Phật có tầm nhìn và sự hiểu biết sâu rộng hơn, nhờ trải qua hai lối sống thái quá, nên Ngài biết cách tìm về con đường trung đạo, nhằm giúp bản thân hoàn thiện, cùng nâng đỡ, sẻ chia, để mọi người cùng đạt đến sự an lạc, hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại.

Chánh kiến, chánh tư duy thuộc về trí tuệ. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giữ giới. Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định lực.

Tám nguyên tắc hành động Bát Chánh Đạo không phải là một tiến trình sắp xếp theo thứ tự nhất định, như việc yếu tố này phải đứng trước yếu tố kia. Trên phương diện thiết lập để tu học, tám yếu tố này được chia ra làm ba nhóm:

_  Nhóm giới luật được liên kết nhau bởi chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.

_  Nhóm định lực được kết hợp hài hòa bởi chánh tin tấn, chánh niệm và chánh định.

_  Nhóm trí tuệ được chiêm nghiệm và tu tập bởi chánh kiến và chánh tư duy.

    Nói rộng ra là Bát Chánh Đạo, nói gọn lại là Giới-Định-Huệ. Do đó, trí tuệ là một phương tiện tu tập thiện xảo, hầu giúp mọi người thức tỉnh để mở mang tâm trí, và thấy biết đúng như thật.

Bát Chánh Đạo là tám con đường ngay thẳng, hay là tám phương pháp nhiệm mầu mật thiết, luôn giúp người Phật tử đạt đến an lạc, hạnh phúc trong đời sống hằng ngày. Trong đạo Phật, Bát Chánh Đạo được xem như phương pháp số một, giúp chúng ta biết cách dứt trừ phiền muộn, khổ đau để đạt đến an vui, tự tại, giải thoát.

Đây là sự hiểu biết thông suốt toàn diện về mọi mặt từ thân, tâm và mọi hiện tượng sự vật, giúp ta thức tỉnh để vượt thoát sự ràng buộc ra khỏi cái thấy biết sai lầm, tham lam, ích kỷ, oán giận, thù hằn, ngu si, mê muội thuộc chủ nghĩa cá nhân.

Đức Phật chỉ cho ta biết cách làm chủ bản thân, quay lại chính mình để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Vì thấy biết sai lầm mà ta phải chịu khuất phục bởi một đấng thần linh giả tạo, với niềm hy vọng mong mình được cứu rỗi, thoát khỏi bao cảnh lầm than, khổ sở mà chính mình đã tạo ra. Trí tuệ không phải là sự hiểu biết bình thường của tri thức, mà là kết quả của sự tu học tinh cần của tâm thức.

Bát Chánh Đạo là một trong 37 phẩm trợ đạo, là pháp môn tu tập căn bản của Phật Giáo Nguyên Thủy, bất cứ một vị xuất gia nào cũng phải hiểu rõ giáo lý này, nó là kim chỉ nam, là phương pháp tu tập căn bản. Như vậy, Bát Chánh Đạo nghĩa là con đường dẫn Thánh quả, hay con đường đi đến sự hoàn thiện chính mình trọn vẹn.

Từ người phàm phu tục tử, chúng ta có thể nương theo Bát Chánh Đạo để tu, thì khỏi sợ lầm lạc, rơi vào chỗ dữ, từng bước sẽ chứng được quả hiền Thánh trong tương lai.

Loài người trên thế gian này lúc nào cũng mong muốn tìm cầu hạnh phúc chân thật. Hạnh phúc đó tùy theo sự nhận định của mỗi người và sự hiểu biết của cá nhân. Đó là lý do tại sao có sự khác biệt trong thế giới con người về quan niệm hạnh phúc.

Theo như chúng tôi được biết, khái niệm Chánh mà giáo lý nhà Phật thường hay gọi là để phân biệt với Tà. Thứ nhất, xem giáo lý nhà Phật như là Chánh pháp. Khi chúng ta gọi giáo lý nhà Phật là Chánh pháp thì chúng ta phải nói đến giáo lý: Duyên Khởi, Vô Thường và Vô Ngã.

Duyên khởi, vô thường và vô ngã là qui luật tự nhiên hay bản chất của các pháp. Không một pháp nào lại không do nhân duyên kết hợp mà thành, cái gì do nhân duyên kết hợp lại mà thành, cái ấy không có tự tánh, không thể tồn tại độc lập và không có tự thể cố định.

Như vậy, giáo lý Duyên Khởi, Vô Thường, Vô Ngã là bản chất của cuộc sống. Bất cứ ai, dù là người của tôn giáo, hay đảng phái nào, cũng phải tuân theo qui luật này, không thể làm khác đi. Cho nên, tùy theo nhận thức của chúng sinh mà có sự hiểu biết khác nhau, nên sinh ra cái thấy không ai giống ai. Chính vì vậy, chúng ta gọi giáo lý nhà Phật là Chánh pháp, điều được nói đến là giáo lý Duyên Khởi, Vô Thường và Vô Ngã. Ý nghĩa này đúng về mặt chân lý, nên gọi là Chánh pháp.

Đi ngược lại với chánh kiến là tà kiến ? Tà kiến là cái thấy sai lệch về sự thật, rồi tạo thành những kiến thức sai lầm, những sự hiểu biết không có sự trải nghiệm bản thân, dẫn đến chỗ tranh chấp, hơn thua, bảo vệ thành trì cố chấp mà sinh ra phiền muộn, khổ đau, tạo nên ân oán, hận thù không có ngày thôi dứt.

Trước khi tìm hiểu ý nghĩa Bát Chánh Đạo, chúng ta cần phải làm rõ ý nghĩa chữ chánh theo nhà Phật định nghĩa như thế nào. Thế nào gọi là chánh? Chánh có nghĩa là ngay thẳng, đúng đắn, tốt đẹp. Nếu như giáo lý nhà Phật là chánh, thì tại sao trong đó có khá nhiều hiện tượng mê tín, dị đoan. Để mọi người hiểu đúng theo nghĩa này thật sự không đơn giản tí nào.

Khi có ai đó mê tín, dị đoan, là niềm tin mù quáng, không có quán xét, chiêm nghiệm, khiến con người mất hết lý trí, mà có thể làm hư hại, tan nát hạnh phúc gia đình, người thân. Như vậy, cái gì làm cho ta nhìn thấy và hiểu biết đúng đắn? Chỉ có tuệ giác của Thế Tôn do tu tập nên chứng biết mà thôi.

Trong cuộc sống, nếu ta biết xem xét, chiêm nghiệm và áp dụng tám nguyên tắc trên trong mọi hoàn cảnh, ta sẽ thấy rõ ràng sự liên hệ nhân quả mật thiết, tương quan giữa những nguyên tắc ấy.

Chúng ta hãy xem xét cho tường tận nguyên tắc thứ nhất là hiểu biết chân chính, tức là sự thấy biết đúng như thật, thì hành động mới tốt đẹp, không làm tổn hại cho ai. Do đó, chánh kiến là rất cần thiết trong việc chọn lựa nghề nghiệp. Nhưng ta phải làm thế nào để thấy biết đúng?

Chi thứ nhất trong Bát Chánh Đạo là chánh kiến, có nghĩa là sở kiến, kiến giải, ý kiến, quan điểm. Chánh kiến ở đây không phải là sự thấy đơn thuần như mắt nhìn thấy các hình ảnh sự vật, mà phải là cái thấy đúng như thật, có nghĩa là thật biết thật, giả biết giả.

Người có chánh kiến luôn luôn lúc nào cũng biết phân biệt và kiểm soát chặt chẽ các mặt hoạt động của thân và tâm, như suy nghĩ chân chính về lời nói, việc làm, mạng sống và sự nỗ lực tinh tấn, để đạt được chánh niệm nhờ có định lực sâu dày.

Hiểu biết chân chính là cái nhìn mọi hiện tượng, sự vật dưới nguyên lý duyên khởi, vô thường và vô ngã, tức không có chủ thể cố định, không có nguyên nhân đầu tiên của thế giới, không có thượng đế ban phước giáng họa, tất cả đều biến thiên, thay đổi, không thực thể.

Ba chi cuối cùng là tinh tấn, niệm và định, là sự quyết tâm tu tập. Chúng ta tu tập là ý thức muốn sửa sai, nếu ý thức này bắt nguồn từ cái thấy sai lệch, cho rằng có một linh hồn bất tử, thì sự tu tập đó trở thành vô dụng. Người tu như vậy không bao giờ đạt được mục đích giác ngộ, giải thoát, nên chánh kiến có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát sự nỗ lực tu tập đó có đúng hay không?

Nếu sự tu tập đó được bắt nguồn từ chánh kiến, chánh tư duy, thì ắt hẳn chúng ta sẽ có lời nói chân chánh, không nói lời giả dối để lường gạt người. Ngược lại, nếu như không có chánh kiến mà là tà kiến, sẽ dẫn đến suy nghĩ bất chính và làm những việc xấu ác, cuối cùng sẽ gặt lấy quả phiền muộn, khổ đau.

Theo lời Phật dạy, sự thấy biết đúng như thật không phải do sự học hỏi trong sách vở hay suy tư, phân tích bằng trí thức. Sự thấy biết đúng như thật là kết quả của sự trải nghiệm, và nhờ vào sự chứng ngộ của bản thân do tu tập đúng pháp.

Muốn thành tựu con đường trung đạo, ta phải biết áp dụng Bát Chánh Đạo, như sự liên hệ tương quan, tương duyên mật thiết với nhau, bồi đắp cho nhau, mà không thể thiếu nhau. Tám nguyên tắc hành động này lúc nào cũng làm nhân và quả để hỗ trợ cho nhau, nếu mất một chi thì không thành tựu con đường trung đạo.

Thế nào là chánh kiến? Phật nói, khi ta hiểu lý nhân quả, không còn nghi ngờ, tức là chánh kiến; tức là thấy biết tất cả mọi hành động lành hay dữ, sẽ cho ra kết quả tốt hay xấu của mình. Đời trước, chúng ta có khi làm lành, có khi làm dữ, nên thân này có khi được vui vẻ, hạnh phúc, có lúc bị phiền muộn, khổ đau. Khi ta đã biết thân tổng báo này chịu ảnh hưởng nhân quả, nghiệp báo đời quá khứ, nên hiện tại mình phải nỗ lực tu hạnh lành, để chuyển hóa và thay đổi những nghiệp xấu ác trước nhẹ bớt. Ai thấy biết như thế là chánh kiến.

Hiện tại, có một số người tự xưng mình là Phật tử, mà lại không có chánh kiến, đôi khi lại ôm ấp tà kiến, hoặc chấp thường, hoặc chấp đoạn. Một số người nghĩ rằng, mình có một linh hồn bất tử không đổi thay, lâu dài không mất, thân này chết đi, đời sau có thân khác cũng y như vậy.

Họ cho rằng, trời chết sinh trời, người chết sinh người, thú vật chết sinh thú vật, giống y như bản photocopy vậy. Như việc ông B giàu có, chết rồi sanh ra cũng là B giàu có. Tin linh hồn mình bất tử, không bao giờ thay đổi, tin như vậy đạo Phật gọi là chấp thường kiến, tức là cái thấy không đúng chân lý, nên khi sống họ mặc tình gây tạo tội lỗi, khi phước hết thì họa đến, chịu khổ vô lượng kiếp, bởi quan niệm sai lầm này.

Lại có nhiều người cho rằng, chết là hết, thân tứ đại sau khi mất sẽ rã tan, trả về cát bụi. Chấp như vậy gọi là đoạn kiến, cái thấy không còn gì nữa. Cả hai kiến chấp đó Phật đều không chấp nhận. Ai chấp như thế là do thấy biết sai lầm mà rơi vào tà kiến.

Còn nếu ta tin rằng, linh hồn vẫn còn mãi thì việc làm lành dữ, thiện ác đối với họ thật vô nghĩa, vì trước sau như một, chẳng có gì đổi thay. Còn nếu cho rằng, chết là hết, thì việc làm lành dữ đối với họ cũng không cần phải quan tâm nữa, nên họ mặc tình gây tạo tội lỗi.

Người tu theo đạo Phật phải thấu hiểu lý nhân quả một cách sâu sắc, rõ ràng và tường tận, ai biết làm điều thiện lành như bố thí, giúp đỡ, sẻ chia, thì được sanh lên ba đường thiện là Trời, Người, A-Tu-La. Ai làm việc xấu ác như giết hại, trộm cướp lường gạt, tà dâm, phá hoại hạnh phúc gia đình người, nói dối, gạt gẫm, uống rượu, say sưa, hay dùng xì ke, ma túy, thì đọa xuống ba đường dữ là Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Như vậy, tất cả mọi chúng sinh đi lên hay đi xuống tùy theo nghiệp thiện hay ác mà đến chỗ an vui hạnh phúc hay sa đoạ khổ đau.

Hiện tại, chúng ta còn là phàm phu tục tử, muốn làm được như thế thì mình phải biết tin sâu nhân quả. Phật dạy, ai chấp vào thường kiến và đoạn kiến là một sai lầm nghiêm trọng lớn lao, khiến người sinh tâm ỷ lại mà làm các điều xấu ác. Người tu Phật không nên chấp như thế, mà phải có chánh kiến nhờ biết tin sâu nhân quả.

Chánh kiến hay hiểu biết chân chính là cái thấy đúng như thật, sự thực của thân, tâm và thế giới, mọi sự vật hiện tượng như thế nào thì ta biết rõ như thế đó. Đức Phật thấy rõ ràng, chính xác, như người đứng trên lầu cao, nhìn xuống ngã tư đường, hay thấy trái xoài trong lòng bàn tay. Tuy nhiên, chánh kiến có nhiều mức độ cao thấp khác nhau, tùy theo khả năng tu học và hiểu biết của mình.

Mức cao nhất của chánh kiến gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, hay nói cho đầy đủ là Phật Đà.  Đối với người tu Phật, chánh kiến rất cần thiết và quan trọng hàng đầu, chúng ta phải duy trì và phát triển mãi mãi bằng sự nghiền ngẫm, nghiệm xét, quán chiếu, soi sáng và tu tập.  

Chánh là ngay thẳng, đúng đắn. Kiến là nhận thấy, nhận biết. Nói cho đầy đủ, chánh kiến là thấy, nghe, hay, biết một cách đúng đắn, công minh, đúng với sự thật khách quan, mọi sự vật, hiện tượng như thế nào thì thấy rõ như thế đó.

Người có chánh kiến lúc nào cũng thấy đúng chân lý, thật biết thật, giả biết giả, không thấy trắng thành đen, không thấy tốt thành xấu, thấy rõ ràng như vậy, tuy không phân biệt mà vẫn thường biết rõ ràng.    

Chúng ta nên nhớ, chết không phải là hết, mà chỉ thay hình, đổi dạng với hình thức khác, tùy theo nghiệp nhân tốt hay xấu trong hiện tại mà cho kết quả trong tương lai. Nếu ta cho rằng, mọi thứ là cố định, thì ta sẽ rơi vào lỗi thường kiến; còn nếu cho rằng, chết là hết, thì rơi vào lỗi đoạn kiến, trái với nhân quả nghiệp báo của đạo Phật.

Nhờ hiểu được nguyên lý nhân duyên, ta phải một bề biết cung kính, tôn trọng các   bậc hiền Thánh nhân. Đối với những bậc được coi là ruộng phước thì ta siêng năng, vui vẻ cúng dường. Ruộng phước có nhiều thứ: cha mẹ là ruộng phước lớn giúp cho người con hiếu thảo, biết ơn và đền ơn công mang nặng đẻ đau, nuôi nấng vất vả, nhọc nhằn. Những người tu hành chân chánh, biết đem những lời Phật dạy có tính cách ích mình, lợi người, là ruộng phước của hàng Phật tử tại gia; cùng với những trẻ mồ côi, người nghèo đói, bệnh tật, là ruộng phước của người tu hạnh bố thí, sẻ chia, hay nâng đỡ tha nhân.

Người Phật tử tại gia xây chùa, tạc tượng, ấn tống kinh sách, băng đĩa, cúng dường tứ sự cho Tăng Ni có thời gian an ổn tu hành để duy trì mạng mạch Phật pháp, là đã gieo giống tốt vào ruộng phước. Người con hiếu thảo biết chăm sóc, cung kính, dưỡng nuôi, an ủi, lo lắng đầy đủ cho cha mẹ về vật chất lẫn tinh thần, là đã gieo giống tốt vào ruộng phước.

Người giàu lòng nhân ái hay giúp đỡ, cung cấp cơm áo, gạo tiền, thuốc men cho trẻ mồ côi, người bất hạnh, bệnh tật, khổ đau, là đã gieo giống tốt vào ruộng phước. Đối với những ruộng phước vừa nêu trên là một việc làm chánh đáng, đòi hỏi con người phải có ý thức cao mới có thể gánh vác trọng trách này.

Chúng ta muốn mai sau được an lạc, hạnh phúc, thì ngay bây giờ phải biết gieo trồng phước đức bằng sự bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia. Chẳng hạn, ta muốn sau này được làm người tài, thì ngay bây giờ mình phải học cho giỏi, về sau mới có cơ hội ra giúp dân, giúp nước. Không có việc gì mà trước không gieo nhân tốt, về sau lại  muốn được quả lành, điều này không thể có được.

Ta hãy thường xuyên quán sát nguyên lý duyên khởi và áp dụng đạo lý ấy trong mọi hoàn cảnh của sự sống, nhờ vậy từng bước chuyển hóa các thói quen xấu để nâng cao sự thấy biết của mình không còn lầm lẫn.

Khi ta có cái nhìn chân chính như vậy rồi, thì mình không bị thành trì cố chấp của phong tục, tập quán, dục vọng thấp hèn, làm mê mờ lý trí. Ngược lại với chánh kiến là tà kiến, tức là sự hiểu biết và nhận thức sai lầm, không phù hợp với thực tế, không tin nhân quả, chấp có thượng đế ban phước giáng họa, chấp có linh hồn bất tử không thay đổi, chấp mọi sự vật đều ngẫu nhiên, khi không, chấp thân này sau khi chết mất hẳn. Ai chấp vào những thứ trên đều bác bỏ lý nhân quả nghiệp báo.

Cố chấp thành kiến cho mọi thứ đều cố định, do đấng tối cao sắp đặt, tin mù quáng không có sự trải nghiệm của bản thân, phản khoa học và trái với chân lý nhân duyên quả, gọi là tà kiến, tức sự thấy lệch lạc, sai lầm.

Chánh kiến là một con đường dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức, tâm linh, qua sự tỉnh thức bên trong của mỗi người.

Chánh kiến là một lối sống mà người đang học Phật nên thực hành và phát triển mỗi ngày, bằng sự cố gắng từ bỏ những sai lầm, để gặt hái những lợi ích cho sự  thành công trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Thế giới muôn loài vật đều thành-trụ-hoại-không, con người đều sinh-già-bệnh-chết, và hằng chuyển biến, thay đổi theo thời gian. Người có cái thấy chân chính thì không bị các phong tục, tín ngưỡng, tập quán, mê tín, có tính cách làm tổn hại người vật chi phối và lôi cuốn.  

Nói tóm lại, chánh kiến là hiểu biết chân chính nhờ có quán chiếu tu tập, nên thấy biết đúng như thật. Sống ở đời, ai cũng cần có sự hiểu biết và nhận thức sáng suốt để phân biệt chánh tà. Nhờ có chánh kiến, ta có thể hiểu từ con người cho đến muôn loài vật đều theo nguyên lý duyên khởi, vô thường và vô ngã.

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Bài học về Đức Phật: Biết sống trong vô thường

Thứ 2, 04/11/2013 | 13:46
Khổ đau luôn bám víu thân phận người, về vật chất như thiếu cơm ăn, áo mặc, rồi đến cái khổ vì già-bệnh-chết...

Đức Phật: 'Thành đạt là có càng nhiều của cải càng tốt'

Thứ 7, 26/10/2013 | 14:18
Quan điểm của Đức Phật về sự phát đạt, sung túc được coi là một trong những khía cạnh thường bị hiểu lầm nhất trong giáo lý của Ngài. Nhiều tác giả đã tuyên bố thẳng hay ám chỉ rằng Đức Phật không khuyến khích người cư sĩ thăng tiến và trở nên giàu có.

Chuyện vị đại đệ tử nổi tiếng nhất của Đức Phật

Thứ 2, 21/10/2013 | 08:18
Là đệ tử rất được Phật tổ yêu mến và là người đứng đầu Tăng già trong giáo hội, Đại Ca Diếp là người đã đứng ra tổ chức lần kết tập kinh điển Phật giáo đầu tiên và quan trọng nhất của Phật giáo. Chính vì thế, người ta vẫn nhắc tới Đại Ca Diếp như một người có công lao đặc biệt trong sự phát triển của Phật giáo sau khi Thích ca Mâu ni nhập diệt.

Nhìn gương Đức Phật, chăm lo muôn người

Thứ 3, 08/10/2013 | 09:33
Tịch Thiên khẳng định rằng sự quyết tâm mang lại sự an lành cho tất cả chúng sinh có giác cảm sẽ làm dâng lên hạnh phúc và hân hoan trong lòng mình.

Sự phục vụ của Đức Phật cho thế gian này

Thứ 4, 09/10/2013 | 08:00
Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể thiết thực.

Hoàng hậu quyền uy quy ngưỡng Đức Phật

Thứ 5, 26/09/2013 | 14:54
Đức Phật Thích Ca giải thích, rằng cuộc sống và đặc điểm của cư dân ở từng nơi đều là phản ánh của những hành vi từ kiếp trước của họ. Vẻ đẹp bắt nguồn từ sự nhẫn nại và hiền lành, sự giàu có bắt nguồn từ bố thí, còn quyền lực bắt nguồn từ việc không đố kỵ với sự thành công của người khác.

Bài học về Đức Phật: Biết sống trong vô thường

Thứ 2, 04/11/2013 | 13:46
Khổ đau luôn bám víu thân phận người, về vật chất như thiếu cơm ăn, áo mặc, rồi đến cái khổ vì già-bệnh-chết...

Đức Phật: 'Thành đạt là có càng nhiều của cải càng tốt'

Thứ 7, 26/10/2013 | 14:18
Quan điểm của Đức Phật về sự phát đạt, sung túc được coi là một trong những khía cạnh thường bị hiểu lầm nhất trong giáo lý của Ngài. Nhiều tác giả đã tuyên bố thẳng hay ám chỉ rằng Đức Phật không khuyến khích người cư sĩ thăng tiến và trở nên giàu có.

Chuyện vị đại đệ tử nổi tiếng nhất của Đức Phật

Thứ 2, 21/10/2013 | 08:18
Là đệ tử rất được Phật tổ yêu mến và là người đứng đầu Tăng già trong giáo hội, Đại Ca Diếp là người đã đứng ra tổ chức lần kết tập kinh điển Phật giáo đầu tiên và quan trọng nhất của Phật giáo. Chính vì thế, người ta vẫn nhắc tới Đại Ca Diếp như một người có công lao đặc biệt trong sự phát triển của Phật giáo sau khi Thích ca Mâu ni nhập diệt.

Nhìn gương Đức Phật, chăm lo muôn người

Thứ 3, 08/10/2013 | 09:33
Tịch Thiên khẳng định rằng sự quyết tâm mang lại sự an lành cho tất cả chúng sinh có giác cảm sẽ làm dâng lên hạnh phúc và hân hoan trong lòng mình.

Sự phục vụ của Đức Phật cho thế gian này

Thứ 4, 09/10/2013 | 08:00
Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể thiết thực.

Hoàng hậu quyền uy quy ngưỡng Đức Phật

Thứ 5, 26/09/2013 | 14:54
Đức Phật Thích Ca giải thích, rằng cuộc sống và đặc điểm của cư dân ở từng nơi đều là phản ánh của những hành vi từ kiếp trước của họ. Vẻ đẹp bắt nguồn từ sự nhẫn nại và hiền lành, sự giàu có bắt nguồn từ bố thí, còn quyền lực bắt nguồn từ việc không đố kỵ với sự thành công của người khác.