Tại sao Phật lại từ bỏ hết tất cả? (2)

Đức Phật vì lòng từ bi, thương xót tất cả chúng sinh, nên dạy ta tu tập để thoát khỏi cảnh khổ đau bằng việc làm chân chính trong nghề nghiệp; kế đến Ngài dạy ăn uống để nuôi thân bằng những thực phẩm không làm tổn hại, nên bố thí, giúp đỡ, sẻ chia cho mọi người, và cung kính cúng dường đến người tu hành chân chính.

CHÁNH TƯ DUY

Chánh tư duy là chi thứ hai trong Bát Chánh Đạo, có nghĩa là suy nghĩ, nghiệm xét, suy tư, bằng sự ý thức của mình. Chánh tư duy là sự suy nghĩ hợp lý. Suy nghĩ hợp lý có nghĩa là, tất cả mọi hiện tượng sự vật như thế nào thì chúng ta suy nghĩ như thế ấy, tức là suy nghĩ của mình và thực tế cuộc sống phù hợp nhau.

Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, đúng với lẽ phải, do có nghiệm xét, có nghĩa là suy tư phù hợp với nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã, như việc mình muốn có một cái nhìn chính xác về tình trạng xã hội hiện giờ đang tiến bộ hay bị tha hóa về mặt đạo đức tâm linh.

Chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chính. Muốn vậy ta phải xem xét, soi rọi, quán chiếu, chiêm nghiệm, không trái với sự thật mà vẫn phù hợp chân lý và đem áp dụng vào trong đời sống hằng ngày có lợi ích thiết thực cho mình và người khác. Chúng ta thường suy tư, quán chiếu tại sao con người phải chịu nhiều phiền muộn, đau khổ, bất hạnh trong đời, nguyên nhân vì sao?

Nhờ thường xuyên suy nghiệm như vậy, ta biết do chấp ngã là ta, là của ta, nên muốn chiếm hữu và tham-sân-si từ đó phát sinh, làm cho người khác phiền muộn, khổ đau. Nhờ có chánh tư duy, ta mới sáng suốt, biết phân biệt những điều hay lẽ phải trong cuộc đời.

Tâm linh là lĩnh vực tiềm ẩn bên trong mọi người rất khó diễn đạt, nhưng lại là vấn đề vô cùng quan trọng. Mọi hành động của con người, mọi phát minh hay cống hiến của nhân loại, đều xuất phát từ biết cách tư duy, nghiền ngẫm, nghiệm xét lâu dài của tâm trí.

Tôn giả Ca Chiên Diên là bậc luận nghị đệ nhất, một trong mười vị đệ tử xuất cách của Phật. Lần đầu tiên, Ngài đến xin Phật được xuất gia tu hành.

Phật hỏi, “nhà ngươi do nguyên nhân gì mà muốn xuất gia?”

Ông trả lời, “vì thấy đức Thế Tôn có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nên con muốn bắt chước tu theo”.

“Ông nói như vậy, nếu sau này thân Như Lai già yếu, bệnh hoạn, chắc ông sẽ không còn phát tâm nữa”.

Nghe nói vậy, ông đớ lưỡi, đành thất tha, thất thểu quay trở về nhà, trong lòng buồn vô hạn.

Nuôi ý chí xuất gia, lần thứ hai ông đến. Phật lại hỏi như lần trước, ông nói, “con lần này tôn trọng và kính cẩn lời dạy vàng ngọc bằng pháp âm vi diệu không thể nghĩ bàn của Phật”.

“Nếu sau này Như Lai không còn giảng dạy nữa thì ngươi sẽ mất hết tín tâm mà bỏ cuộc” .

Lần thứ ba, ông đã chuẩn bị đầy đủ nghĩa lý cần thiết cho người xuất gia và tin chắc rằng lần này sẽ được. Phật hỏi tiếp, ông trả lời, “do con kính phục chư Tăng tu hành nghiêm túc và dám xả bỏ hết mọi lạc thú trên đời”.

“Như vậy, sau này có chúng Tăng nào bê bối, chễnh mãng trong việc tu hành, ông sẽ thoái Bồ Đề tâm hay sao?”

Ba lần mong muốn được xuất gia đều không được toại nguyện, nhưng ông không thất chí, nản lòng, vẫn giữ chí xuất trần thượng sĩ để chờ cơ hội khác, xin Phật được xuất gia và tu học theo các bậc hiền Thánh.

Sau cùng, ông đến bạch Phật, “từ lâu nay, con đã được nghe lời dạy của Như Lai Thế Tôn, con đã suy nghĩ, xem xét, quán chiếu, chiêm nghiệm nghĩa lý một cách thấu đáo, tường tận, rõ ràng. Sau đó, con đem áp dụng cho bản thân và cảm nhận được an lạc, hạnh phúc, do biết buông xả tâm chấp trước dính mắc vào cái ta và của ta. Nay con đã thấy biết như thế, nên con muốn xuất gia để hành trì rốt ráo đến giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, nhằm hoàn thiện bản thân và giúp đỡ, sẻ chia cùng với tất cả mọi người”.

Qua câu nói này, Phật vui vẻ chấp nhận và chỉ dạy pháp tu rốt ráo, nhờ vậy tôn giả đã chứng ngộ Niết Bàn, giải thoát.

Lời tác bạch chân thành của tôn giả Ca Chiên Diên đúng như sự mong mỏi của đức Phật, ai muốn thành tựu đạo quả thì phải bắt đầu từ văn-tư-tu.

Mới đầu, ta nghe lời Phật dạy, có nghĩa là nghiên cứu, học hỏi cho tường tận, sau đó suy nghĩ, quán chiếu, tìm tòi nghĩa lý, rồi đem ứng dụng vào thực tế cuộc sống, chuyển mê thành ngộ, chuyển xấu thành tốt, cuối cùng thể nhập chân lý, giác ngộ, giải thoát.

Người tu theo phương pháp chánh tư duy thường biết xét nét lại từ ý nghĩ, lời nói và hành động, để làm sao không xảy ra lầm lỗi. Ta phải biết xét nét từng ý nghĩ xấu ác có hại cho người vật. Nhờ quán chiếu, chiêm nghiệm, ta biết được nguyên nhân phiền muộn, khổ đau là do ngu si, chấp trước mê muội, để vươn lên vượt qua cạm bẫy cuôc đời.

Muốn vậy, ta phải thường xuyên nghiệm xét nguyên lý duyên khởi của các pháp mà tìm ra nguyên nhân sâu xa của nó, nhờ quán chiếu soi rọi, ta mới có thể đạt tới cái nhìn chính xác mọi vật đều không cố định.

Cho nên, ta suy nghĩ đúng, suy tư tốt, để nói lời chân thật và an ủi, sẻ chia, giúp đỡ mọi người bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Nếu ta chỉ tùy theo thói quen, phong tục, tập quán, thành kiến khi xưa thì vô tình mình sẽ không thấy được đúng vấn đề chính xác.

Do đó, vì không có chánh tư duy đúng đắn, nên ta nói và làm không phù hợp với chân lý, mình sẽ không đạt tới được chánh kiến thấy đúng như thật.

Khi chúng ta biết suy tư về thực tại nhiệm mầu của cuộc sống một cách hợp lý, thì nó giúp ta biết cách giải quyết sáng suốt bất cứ mọi vấn đề gì. Nhờ vậy, mình làm việc gì cũng được lợi ích thiết thực, không mang lại khổ đau cho người khác, và còn đem đến an vui, hạnh phúc cho tất cả chúng sinh.

Suy nghĩ đúng đắn luôn có chánh kiến soi rọi, không thể mang lại phiền muộn, khổ đau cho ai, đó là mối quan hệ nhân quả về mặt tâm lý. Nếu trong hiện tại, ta có phiền não gì là do ta không biết chánh tư duy, nay mình đã có suy nghĩ đúng đắn rồi, thì những phiền não, khổ đau từ đây về sau sẽ không còn bám vào gốc rễ chánh kiến của mình được nữa.

Như vậy, nếu như giáo lý Bát Chánh Đạo được xem như là một quá trình nhận thức với thế giới bên ngoài, thì chánh tri kiến được xem như cơ quan đầu não trọng yếu của người tu, làm cơ sở dẫn dắt cho tư duy chân chính, và phát xuất ra lời nói chân chính, hay giúp đỡ, an ủi người, cho đến chi cuối cùng là chánh định.

Chánh tư duy có trách nhiệm gạn lọc, chuyển giao, bằng cách suy nghĩ đúng đắn cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, làm cho lời nói, hay hành động được lợi ích mình- người với tấm lòng vô ngã, vị tha.

Nói tóm lại, tư duy chân chính là những nếp suy nghĩ đúng đắn, vượt khỏi sự ràng buộc của tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, oán giận, thù hằn, ngu si, mê muội, không tồn tại trong ta. Khi ta có tư duy chân chính, việc làm của mình sẽ được thăng tiến tốt đẹp, đem lại lợi ích cho mình và người khác.

Trong Phật giáo có nhiều phương pháp tu hành, nói gọn lại còn hai thứ là Thiền Chỉ và Thiền Quán. Hai phương pháp này làm nhân cho nhau để dẫn đến kết quả viên mãn.

Thiền Chỉ là mỗi hành giả phải chú tâm vào một chỗ, ròng rặc, tinh cần, chuyên nhất như niệm Phật, Bồ Tát, quán sổ tức, quán hơi thở. Nhờ chuyên nhất vào một chỗ nên ta phát sinh định lực, tuy được định nhưng chưa có trí tuệ thấy biết đúng mọi hiện tượng, sự vật, do đó ta phải chuyển qua Thiền Quán để xem xét, soi sáng, chiêm nghiệm từ thân mình cho đến mọi hiện tượng, sự vật.

Thiền Quán đồng nghĩa với chánh tư duy, như ta quán thấy thân này do đất-nước- gió-lửa hợp thành, bản chất của nó không thật có, nên phải sinh-già-bệnh-chết. Vạn sự, vạn vật cũng không có gì cố định, nó hằng biến chuyển, thay đổi theo thời gian; chính vì vậy thế giới này luôn thành-trụ-hoại-không.

Ta quán biết rõ ràng từng sự vật duyên khởi, vô thường, vô ngã, vì không có thực thể cố định, nên ta luôn đóng góp, sẻ chia vì tình người trong cuộc sống mà không chấp trước, bám víu vào những thứ được mất, hơn thua, nên hư, thành bại.

Ta muốn sống được an lạc, hạnh phúc thì hãy nên thường xuyên chiêm nghiệm, quán sát từ thân mình cho đến muôn loài vật, để thấu rõ bản chất thật của chúng, nhằm làm lợi lạc cho mình và người khác. Ai cũng mong muốn mình được hạnh phúc, có tiền tài, danh vọng, vợ đẹp, con ngoan, và mọi nhu cầu tiện nghi vật chất, nhưng ta lại không tin sâu nhân quả, không tin tưởng chính mình mà cố gắng gieo trồng phước đức như bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia.

Ta không muốn gieo nhân tốt mà muốn được gặt quả tốt là điều không thể có. Tu mà không tư duy, quán chiếu thì làm sao phát sinh được trí tuệ, có trí tuệ ta mới soi sáng được mọi sự vật, nhờ vậy biết cách buông xả tham lam, sân giận, si mê mà chuyển hóa chúng thành vô lượng trí huệ từ bi rộng lớn. Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải để mang lợi ích thiết thực vào đời sống xã hội.

Những thói quen xấu và các tư tưởng thấp hèn là những phẩm chất luôn luôn ngầm chứa bên trong con người chúng ta. Ngày nào ta còn tham-sân-si thì ngày đó, những chất độc này còn có thể trỗi dậy, làm mất đi nhân cách đạo đức của mình.

Do đó, sự từ bỏ cũng là một trong những phương cách giải độc cho lòng tham và triệu chứng thèm muốn của nó.

Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh ở chỗ loại trừ dứt khoát, chứ không đè nén những trạng thái tâm bất thiện và thay thế bằng những trạng thái tâm thiện.

Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh ở chỗ mở lòng nhân ái và từ bi, để có thể đạt được một hạnh phúc vô điều kiện trong sự từ bỏ.

Chánh tư duy cùng với chánh kiến giúp người học Phật thường xét nghĩ đạo lý, suy tìm thể tánh nhiệm mầu của từ, bi, hỷ, xả, biết xét nét những hành vi lầm lỗi để sám hối chừa bỏ. Biết nhìn thấu vô minh là nguyên nhân gây ra đau khổ, là nguồn gốc của tội ác, và cố gắng tìm phương pháp đúng đắn để tu hành, hầu giải thoát cho mình và những người chung quanh.

Tóm lại, chánh tư duy và chánh kiến là hai yếu tố quan trọng trong phần tu trí huệ của Bát Chánh Đạo, vì chúng có thể đặt thẳng đứng lên những gì đã bị đảo ngược và để lộ những gì đang bị ẩn khuất trong bóng tối.

Tôn giả Ca Chiên Diên nhờ sự chỉ dạy tường tận của đức Phật mà sau này trở thành bậc luận nghị nổi tiếng, bằng cách thức lý luận sắc bén nhờ biết tư duy, chiêm nghiệm, quan sát rõ ràng mọi hiện tượng, sự vật, và biết quay lại chính mình, sống với Phật tính sáng suốt.

CHÁNH NGỮ

Đây là chi thứ 3 trong giáo lý Bát Chánh Đạo, được gọi là chánh ngữ, hay lời nói chân chính, đúng đắn. Lời nói chân chính bao gồm nhiều khía cạnh như nói lời thành thật, không nói lời giả dối nhằm mục đích để lường gạt mọi người; không nói lời nặng nề, thô lỗ, chát chúa, móc méo, mắng chửi làm người oán giận, thù hằn, mà sinh ra phiền muộn, khổ đau; không nói lời gây chia rẽ làm hai bên hiểu lầm nhau mà ganh ghét, tạo ra oan gia trái chủ, chống đối lẫn nhau; không nói lời mê hoặc để dụ dỗ người khác, không nói tán dóc đầu trên xóm dưới, và những điều không có lợi cho cộng đồng xã hội.

Nếu như chánh tư duy có tránh nhiệm gạn lọc những gì đã được thu thập từ mắt-tai-mũi-lưỡi-thân cho hợp lý, thì lời nói chân chính sẽ giúp con người biết cách phát ngôn và làm đúng với những gì mình đã nói trong thực tế.

Tuy nhiên, cuộc sống của chúng ta cùng sự diễn biến của xã hội con người rất phức tạp và nhiều mâu thuẫn, nên mình cần phải ăn nói thận trọng, nên nói và làm tương ưng với mục đích mình đang đeo đuổi.

Cho nên, dân gian có câu, “học nói ba năm, nhưng thực hành cả đời chưa chắc đã xong”. Ai hoàn thiện được lời nói chân chính, Phật giáo gọi là chánh ngữ. Lời nói chân chính bao hàm nhiều khía cạnh; Khi chúng ta muốn phát biểu một vấn đề gì, ta cần phải cân nhắc vào vấn đề cần nói, coi lúc này đã hợp thời chưa. Khi nói, ta cần phải xem xét lại vấn đề mình muốn nói đó có đúng với sự thật hay không, nếu chưa biết chính xác thì không nên nói. Có hai cách thể hiện lời nói của mình là, chúng ta nên dùng cách nào cho phù hợp, nên cứng rắn, mạnh mẽ, hay khéo léo, uyển chuyển, nhẹ nhàng.

Trước khi muốn phát biểu lời nói nào, ta cần phải cân nhắc xem lời nói ấy có lợi ích, hay ảnh hưởng không tốt trong hiện tại và mai sau hay không. Có hai cách thể hiện lòng mình qua lời nói, ta nói với lòng từ bi, thương xót, hay vì lòng ganh ghét, oán giận, thù hằn.

Nói lời thành thật là người sống có nhân cách đạo đức, là chất liệu của sự yêu thương chân thành, thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng, nhưng giúp ta có cơ hội sửa sai và chuyển hóa được lỗi lầm. Ngược lại, lời nói êm tai, ru ngủ rất được lòng người, nhưng đó là lời giả dối, nịnh bợ, ta gọi đó là ngọt mật chết ruồi, dễ làm hại người.

Để đạt được những tình cảm qua lời ăn tiếng nói, thể hiện sự thành thật, chân tình, ta cần phải kiềm chế các cảm xúc tiêu cực như nóng nảy, giận dữ, để được sống vui vẻ, hài hòa với người thân yêu.

Ta không nên nói lời giả dối để lường gạt hoặc hại người, mà cần nói lời thành thật với nhau bằng trái tim yêu thương, hiểu biết. Để cuộc sống ngày càng thăng hoa tâm linh, ta cần phải biết chọn lời hay ý đẹp mà nói, nói lẽ phải, tôn trọng sự thật. Sống trung thực giúp ta nâng cao phẩm chất đạo đức, làm lành mạnh các mối quan hệ gia đình, nên xã hội được tốt đẹp.

Có những lời nói thốt ra làm cho tan nhà nát cửa, mất nước, hại dân, nhưng cũng có những lời nói làm chúng ta biết sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết. Chính vì vậy, ta cần phải có chánh kiến, và biết tư duy để soi xét mọi sự vật để thấy đúng như thật.

Cho nên, ta chuyện không nói không, chuyện có nói có, không nói dốc láo, nói lời bịa đặt, nói lời móc họng, nói lời hằn học, mắng chửi, không nói lời dụ dỗ, nói xấu sau lưng, làm cho mọi người nghi kỵ, thù địch nhau.

Do đó, cây ngay không sợ chết đứng, người thật không sợ mích lòng. Nói lời thành thật là một đức tính cao quý, là nhu cầu cần thiết để giúp cho con người không dối trá, lường gạt nhau.

Có một chú bé nọ, nhờ nói lời thành thật mà sau này được làm hoàng tử. Đức Phật dạy rằng, “chính chúng ta là người làm chủ lời nói, khi nói ra sẽ có kết quả, một là làm cho người khổ đau hay hạnh phúc, điều đó tùy thuộc vào sự suy nghĩ, nói năng của mình. Theo nhà Phật, thông thường lời nói hợp thời, chân thật, mềm dẻo, với tâm từ bi rộng lớn, thường mang lại cho ta sự an lạc, hạnh phúc, ngược lại là bất hạnh và khổ đau. Đây chính là lý do đức Phật khuyên chúng ta nên nói lời chân thật, ái ngữ, với lòng thương xót, không phải lời nói gây thêm ân oán, hận thù.

Nói dối tức là nói dốc láo để lường gạt, hại người, bịa đặt ra, nói sai sự thật, hoặc khi hứa hẹn với người khác rồi nuốt lời. Lời nói dối có nhiều cách, do ganh ghét, tật đố mà nói dối hại người. Người nói dối thường gây ra nhiều tội lỗi bằng nhiều hình thức, cũng chỉ vì lòng tham riêng cho mình.

Nói lời chân chính, đúng đắn, nghĩa là ta phát biểu sự thật, căn cứ trên nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã. Bất cứ một phát biểu nào của ta mà không phù hợp với nguyên lý duyên sinh đều không phải là lời nói chân chính.

Các bậc hiền Thánh đi trước, nhờ biết chiêm nghiệm lời dạy của cổ nhân, do đó áp dụng vào trong tu tập, đã thấu rõ được kiếp nhân sinh, nên nói năng hài hòa, thu hút người nghe, biết quý trọng và tôn kính. Một lời nói tốt có thể giúp mọi người sống an vui, hạnh phúc, ngược lại gây ra chia rẽ, hận thù, tạo nỗi khổ, niềm đau cho nhau.

Chánh ngữ là lời nói hợp với chánh pháp, có lợi ích, đem lại an vui, hạnh phúc, bình yên cho nhiều người. Ta phải cẩn thận giữ gìn lời nói, nói lời chân thật, không nên nói lời vô nghĩa. Trong kinh Phật dạy, “nói một lời đúng chánh pháp giúp cho người nghe cảm thấy an ổn, nhẹ nhàng, hơn là nói tràng giang đại hải mà không có lợi ích gì cho ai”.

Người biết nói lời chân chính luôn luôn thận trọng, dè dặt khẩu nghiệp, không bao giờ nói sai sự thật, không xuyên tạc, không thiên vị, không nói lời dụ dỗ, không nói lời hằn học, mắng chửi, không nói lời vu oan giá họa.

Lời nói là phương tiện để diễn tả điều ta suy nghĩ, nếu mình thấy không đúng sự thật và nghĩ sai thì nói và làm cũng sai. Khi ta nói sai sẽ gây tác động xấu cho chính ta và cho người khác. Lời nói không những cần phải diễn tả sự thật, mà còn nhắm đến sự giúp đỡ, sẻ chia, nhằm an ủi, động viên gia đình, người thân khi gặp việc không được vừa lòng, như ý mà sinh ra bất hạnh, khổ đau.

Trong cuộc sống, chúng ta hay dùng lời nói để trao đổi thông tin, giao tiếp, diễn đạt ý tưởng, hoặc để biểu lộ tình cảm, tâm tư của mình. Nếu ta dùng lời nói đúng đắn, chân chính, thì con người có thể cảm thông và yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau nhiều hơn.

Người xưa chỉ dạy, “hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”, ai thường xuyên nghiệm xét lời trên thì khi nói sẽ không làm tổn hại cho ai. Chính vì thế, “lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Trong cuộc sống của chúng ta, ai cũng biết thực hành hai câu trên thì vợ chồng, con cái vui vẻ, hòa thuận với nhau, biết kính trên nhường dưới, gia đình hạnh phúc, xã hội được bình yên, nhờ vậy cuộc đời thêm vui tươi. Một lời nói ra làm cho mọi người vui vẻ, hạnh phúc, sống lạc quan, yêu đời, đó gọi là chánh ngữ, tức lời nói chân chính.

Khi ta đã thấu hiểu được lý duyên sinh qua đời sống hằng ngày, ta mới biết nói những lời lẽ chân thật, lợi ích, yêu thương, tạo nên hòa khí vui vẻ, làm tiêu tan không khí ganh tị, tật đố, ân oán, thù hận, và mọi sự lo lắng, sợ hãi trong phiền muộn, khổ đau.

Lời nói chân chính luôn giúp mọi người sống an vui, hạnh phúc, ngược lại là lời nói làm tan vỡ hạnh phúc gia đình người khác, đó là lời nói thêm bớt, thêm mắm thêm muối, thay trắng đổi đen, làm sự việc trở nên căng thẳng, làm mọi người hiểu lầm nhau mà gây ra oán giận, thù hằn.

CHÁNH NGHIỆP

Chi thứ 4 trong bát chánh đạo là chánh nghiệp, hay còn gọi là nghề nghiệp chân chính. Trong đó, bao gồm các thứ như nghề nghiệp, sự nghiệp, gia nghiệp, chức nghiệp, thương nghiệp, nghiệp vụ. Nói một cách dễ hiểu là nghề nghiệp, hay phương cách làm ra tiền để nuôi sống bản thân và gia đình. Có khá nhiều cách để kiếm tiền sinh sống, nhưng ở đây, Phật giáo muốn đề cập đến những nghề nghiệp chính đáng, hợp pháp, không làm tổn hại cho người và vật, nghề đó được gọi là nghề nghiệp chân chính.

Hầu như những bản kinh thuộc về Phật giáo Nguyên thủy có nội dung đề cập đến nghề nghiệp là phương tiện làm việc để sinh sống, nhằm mục đích nuôi sống bản thân và gia đình của người cư sĩ tại gia.

Chánh nghiệp là nghề nghiệp và hành động chân chính. Nghề nghiệp chân chính sẽ đem lại lợi ích chính đáng cho mình và người.

“Này các thiện nam, tín nữ, có năm nghề buôn bán không nên làm. Thế nào là năm? Buôn bán đao kiếm hay súng ống, đạn dược, buôn bán người nô lệ hay phụ nữ và trẻ em, buôn bán thịt cá, buôn bán rượu, buôn bán thuốc độc.

Nghề thứ nhất trong 5 nghề đức Phật đề cập là, cấm người Phật tử không được buôn bán đao kiếm, nói cho đầy đủ là gồm cả súng đạn, những binh khí dùng trong chiến tranh để giết hại lẫn nhau.

Nghề thứ hai mà đức Phật cấm người Phật tử không được làm là buôn bán con người. Nghề này có lẽ ở xã hội phong kiến xa xưa, khi chưa có chính sách luật pháp bảo vệ nhân quyền, nên tình trạng buôn người phổ biến, nhất là phụ nữ và trẻ em. Ngày nay, tình trạng này vẫn còn, việc mua bán phụ nữ và trẻ em vẫn đang diễn ra hằng ngày, nhưng không công khai mà chỉ bằng nhiều hình thức dụ dỗ, lừa đảo, lời dụng lòng tham của con người.

Nghề thứ ba đức Phật cấm là buôn bán rượu. Trong năm giới, nó không phải là giới chánh, vì nó là nhân làm cho con người say sưa, mê mờ, không có lý trí, nếu quá trớn sẽ dẫn đến nhiều vụ án dã man do rượu gây ra. Nó là cái nhân sinh ra các quả si mê, tâm thần, ám độn, không sáng suốt, và có thể gây ra nhiều tội lỗi tày trời.

Chính sự tác hại của rượu quá lớn, nên Như Lai Thế Tôn khuyên người Phật tử không nên uống, và cũng không khuyến khích người khác uống, đó là lý do tại sao Ngài cấm không cho người Phật tử buôn bán rượu.

Nghề thứ tư mà đức Phật cấm là buôn bán các loài súc sinh, một là trực tiếp giết mổ, hai là xúi bảo người khác giết, ba là vui vẻ khi thấy người khác giết. Nhân giết hại dẫn đến quả báo ân oán, hận thù, giết hại lẫn nhau không có ngày thôi dứt. Người giết người, người giết vật, vật giết người, lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu, nên thế giới chúng ta lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, binh đao, tàn sát, giết hại theo quy luật nhân quả vay-trả.

Nghề thứ năm là nghề buôn bán các loại độc được, là những loại như là heroin, thuốc lắc, thuốc kích thích, xì ke, ma túy, nó là những loại thuốc làm cho con người mất lý trí, mất khả năng sống, dẫn đến con đường sa đọa, mê mờ, làm khổ gia đình, người thân, và làm ảnh hưởng xấu đến xã hội. Ngoài năm trường hợp trên, đức Phật vì lòng từ bi, thương xót chúng sinh, muốn chúng sinh được an vui, bình yên, hạnh phúc, nên khuyên ta nên tránh xa năm nghề đó. Xã hội ngày nay còn có nhiều ngành nghề khác không được lành mạnh, như phim ảnh đồi trị, sách báo khiêu dâm, game bạo động. Người Phật tử chân chính cần phải tránh xa những nghề này.

Chánh nghiệp là việc làm chân chính, đúng đắn, phù hợp với lẽ phải, đúng với chân lý; ở đây cũng có nghĩa là việc làm phù hợp nguyên lý duyên sinh, nên lúc nào cũng được lợi ích cho mình và người. Ai biết thận trọng, giữ gìn mọi hành động thuận theo lý duyên sinh, chắc chắn sẽ đem lại kết quả tốt, không làm tổn hại đến quyền lợi, hạnh phúc của người khác.

Nghề nghiệp chân chính là những nghề nghiệp nuôi mạng sống con người như làm ruộng, trồng hoa màu, các loại cây ăn trái, làm ra thức uống tinh khiết, nghề giáo dục, bác sĩ, bác học, khoa học, tâm linh. Ngược lại, dối trá, lừa đảo bằng nhiều hình thức để mưu cầu lợi ích cá nhân, mặc kệ sự tác hại của nó về lâu, về dài, là những nghề nghiệp làm tổn hại cho nhân loạị.

Người nông dân biết canh tác theo tinh thần nhân quả là một người nông dân hiểu biết, thông minh, thấm nhuần lời Phật dạy, nên việc làm nhằm để phục vụ lợi ích cho gia đình và xã hội; nhờ vậy, kết quả gặt hái được nhiều hơn những người nông dân không hiểu lý duyên sinh.

Biết được hết mọi dữ kiện về hạt giống, phân bón, thời tiết, thị trường, người nông dân sẽ có nhiều cơ hội thành công. Trong gia đình và xã hội, biết hành động theo nguyên lý duyên sinh, người Phật tử tạo được hòa khí và thương yêu, xây dựng được đời sống an lạc của mình mà không phương hại sự hạnh phúc của kẻ khác.

Đức Phật vì lòng từ bi, thương xót tất cả chúng sinh, nên dạy ta tu tập để thoát khỏi cảnh khổ đau bằng việc làm chân chính trong nghề nghiệp; kế đến Ngài dạy ăn uống để nuôi thân bằng những thực phẩm không làm tổn hại, nên bố thí, giúp đỡ, sẻ chia cho mọi người, và cung kính cúng dường đến người tu hành chân chính.

Ta sống bằng nghề nghiệp chân chánh làm bằng sức lao động chân tay, hoặc bằng trí óc, để tạo ra những thực phẩm lương thiện nuôi mạng sống, trong đó không có sự gian ác và đau khổ. Một người hành nghề giết hại chúng sinh, làm đau khổ người khác, thì nghề nghiệp ấy đạo Phật gọi là tà nghiệp.

Tà nghiệp còn có nghĩa là ý nghĩ xấu ác, lời nói ác, và hành động giết hại chúng sinh, làm đau khổ cho người khác, hay mắng chửi người khác, nói xấu người khác, vu khống người khác. Cho nên, nhân quả không thể trốn tránh, dù có trốn lên trời hay chui xuống đất cũng không thoát khỏi được.

Tóm lại, là người Phật tử chân chính, ta không nên làm những nghề nghiệp có tính cách tổn hại người vật, mà hãy làm các nghề thiện ích như bác sĩ, dạy học, trồng trọt, kinh doanh, mua bán thức ăn, thức uống tinh khiết, nghề luật sư chuyên bảo vệ cho người bị hại, đem lại công bằng trong cuộc sống.

Nếu ta không có lương tâm đạo đức thì sẽ lợi dụng quyền hạn của mình mà hối lộ cả hai đầu, kẻ bị hại và lẫn cả người hại. Cho nên, Phật dạy, muốn làm người tốt trong hiện tại và mai sau, ta phải biết chọn lựa nghề nghiệp chân chính, trước tiên là để nuôi sống bản thân và gia đình, kế đến là phục vụ tốt cho xã hội.

CHÁNH MẠNG

Chánh mạng là chi thứ 5 trong giáo lý Bát Chánh Đạo, hay còn gọi là cuộc sống chân chính. Nếu nói chánh nghiệp là việc làm không ảnh hưởng và tổn hại đến người vật, nên nghề nghiệp chân chính và cuộc sống phải phù hợp với lý duyên sinh. Sự khác biệt trong hai chi này là giữa việc làm và cuộc sống, nhưng nó sẽ hỗ trợ cho nhau, tạo nên nghề nghiệp và cuộc sống chân chính.

Chánh mạng là nỗ lực chân chính, một nghề nghiệp lương thiện, đó là mạng sống chân chính. Nhưng thế nào là một nghề nghiệp được coi là lương thiện? Điều này cũng chỉ có thể trả lời bằng sự nhận xét về xã hội trên nguyên lý duyên sinh.

Những phương tiện sinh sống không gây tai họa, khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cũng như trong tương lai, những phương tiện sinh sống không lừa đảo, không gieo rắc lầm lạc, không bóc lột kẻ khác, không vi phạm quyền tự do và bình đẳng của kẻ khác, không phá hoại môi trường sinh hoạt của con người, đó là chánh mạng.

Chánh mạng là mạng sống chân chính, có nghĩa là con người sinh sống một cách chính đáng, có đời sống lương thiện, ngay thẳng, trong sạch, có tính đóng góp, phục vụ lợi ích cho tất cả mọi người.

Người biết giữ gìn chánh mạng là người biết sống một đời có ý nghĩa, không bao giờ biết làm tổn hại cho ai. Sống bằng sự lao động chân tay hoặc trí óc thánh thiện, biết tôn trọng lẽ phải, biết tôn trọng quyền bình đẳng của con người và luôn sống đóng góp, sẻ chia, giúp đỡ nhân loại bằng tình người trong cuộc sống.

Ngược lại với chánh mạng là tà mạng. Tà mạng là sinh sống không chính đáng, bất lương, hay trộm cướp, gian tham, lường gạt của người, ăn không ngồi rồi, lười biếng, giết hại một cách tàn nhẫn, dã man, để mưu cầu lợi ích cho riêng mình. Cúng sao, giải hạn, cầu thần, ém quỷ, gian dối, hại người, làm đồ độc hại cho người ăn, khiến họ mang thân bệnh hoạn, chết chóc, đau thương. Ai làm ít mà muốn hưởng thụ nhiều, hoặc quan niệm “một đêm trộm cướp bằng ba năm làm”, hoặc người quyền cao chức trọng tham lạm của công, đều là tà mạng.

Tóm lại, người Phật tử chân chính hãy khôn ngoan sáng suốt, biết chọn lựa nghề nghiệp, không làm tổn hại đến muôn loài vật và sống bằng chánh mạng của mình.

CHÁNH TINH TẤN

Chánh tinh tấn là chi thứ 6 trong Bát Chánh Đạo, có nghĩa là tinh tấn, nỗ lực, cố gắng đúng theo chánh pháp; hay nói cách khác là sự nỗ lực chân chánh, có ý nghĩa, lợi ích cho mình và người.

Thế nào là sự nỗ lực chân chánh? Mục đích giáo dục của đạo Phật là tìm kiếm sự an lạc, hạnh phúc, giác ngộ và giải thoát, nhờ ta siêng năng dứt trừ các điều ác từ trong ý nghĩ, hay làm việc thiện ích để giúp đỡ tha nhân.

Chánh tinh tấn là nỗ lực chân chính tức là sự cố gắng liên tục trên mọi lãnh vực làm việc và tu tập. Đây cũng là một phương pháp quan trọng liên kết trong Bát Chánh Đạo, nếu thiếu một chi nào thì cũng khó mà thành tựu đạo pháp. Nếu ta nỗ lực không theo nguyên lý duyên sinh thì không được gọi là chánh tinh tấn.

Những nỗ lực nào hướng đến tham lam ích kỷ, oán giận, thù hằn, hay si mê, dại dột, làm đều bất chính, thì không được gọi là chánh tinh tấn, bởi những kết quả của sự nỗ lực này có thể làm mọi người phiền muộn, khổ đau, và không dẫn đến mục đích chính đáng.

Tinh tấn nỗ lực là hành động kiên trì, củng cố vững chắc cho sự tu tập hằng ngày của chúng ta, nhằm mục đích ngăn ngừa, tránh xa những điều tội lỗi, lại còn hay tăng trưởng các việc làm lợi ích để mang lại sự an lạc, bình yên trong cuộc sống.

Tinh tấn mà không có trí tuệ thì không đạt được mục đích mong muốn. Tinh tấn có trí tuệ sẽ giúp ta lần hồi chuyển hóa phiền não tham-sân-si thành vô lượng an lạc, hạnh phúc và trí tuệ, từ bi.

Ai siêng năng tinh cần, nỗ lực không biết mệt mỏi trong việc tu tập, sẽ có được năng lực chuyển hóa để tự mình thoát khỏi những cám dỗ có tính cách làm tổn hại người vật, và giúp mình thoát khỏi xiềng xích ngục tù của tội lỗi.

Tinh tấn là nền tảng căn bản giúp ta biết cách từ bỏ sự nản chí, bất mãn, lười biếng, nhờ vậy các việc xấu, tội lỗi không có cơ hội phát triển. Tinh tấn là sự rèn luyện tâm linh cao thượng qua những việc làm chân chính, bởi vì đó là những hành động mang lại an vui, hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.

Bất cứ làm việc gì, chúng ta cần phải có sự chú tâm và siêng năng tinh cần, thì mới có thể đưa đến sự thành công viên mãn. Thí dụ như ta có thói quen nóng giận, thường nói những lời hằn học, khó nghe, hay làm những hành động không tốt làm khổ người; vì ta không kiểm soát chặt chẽ được chính mình từ ý nghĩ, nên ta mới phát ra những lời lẽ khó nghe như vậy, làm cho gia đình, người thân buồn phiền.

Do đó, ta cần phải tập kiểm soát chính mình để tránh được những hậu quả không tốt đẹp, vì thiếu suy nghĩ trong phút chốc có thể đưa ta đến bờ vực thẳm. Người thuờng xuyên tinh tấn sẽ biến mảnh đất đang chất chứa đầy đau khổ trở thành lòng tha thứ, bao dung, biết chia sẻ và nâng đỡ tha nhân bằng tình người trong cuộc sống.

Người hay cầu nguyện cho tất cả mọi người được sớm mau giác ngộ giải thoát là chuyện tốt, nhưng chưa đủ, mà cần phải có sự đóng góp, dấn thân, an ủi, sẻ chia và nâng đỡ. Siêng năng tinh tấn là sự dấn thân liên tục để chuyển hóa phiền muộn, khổ đau thành vô lượng trí tuệ từ bi với tấm lòng vô ngã, vị tha.

Người nông dân khi gieo mạ trồng lúa, biết lựa chọn những hạt giống tốt, biết dùng những loại phân bón thích hợp, siêng năng nhổ cỏ, thì kết quả thu hoạch sẽ đem lại cho họ một niềm vui trọn vẹn, như ý.

Chánh tinh tấn là sự siêng năng tinh cần trong học hỏi, làm việc và tu sửa. Người sống đúng theo chánh tin tấn lúc nào cũng biết phản quan tự kỷ, quay lại chính mình, siêng năng chuyển hóa tâm xấu ác có tính cách làm tổn hại người vật thành tâm hiền thiện, đạo đức.

Chánh tinh tấn là không làm các điều ác mà hay làm các việc thiện lành, tốt đẹp. Một ý nghĩ ác, một lời nói ác, một hành động ác, dù nhỏ nhặt đến đâu ta cũng quyết chí không làm, nếu đã lỡ làm thì tìm cách sám hối và dứt trừ. Ta không làm điều ác và hay làm các việc lành, hay giúp đỡ người khác để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh.

Người siêng năng hành trì chánh tin tấn thì điều ác chưa sinh sẽ không để cho nó phát sinh, nếu đã lỡ phát sinh thì tìm cách ngăn dừng. Điều lành nếu chưa làm thì phải tìm cách làm, sao cho ta ý thức mà làm lành lánh dữ. Như khi đã làm thiện rồi thì ta phải tìm cách duy trì, để những việc làm có lợi ích cho người được tiếp tục mãi mãi, nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ, chớ chẳng tìm cầu đâu xa.

Người tu theo hạnh tinh tấn quyết tâm không sờn lòng nản chí, đeo đuổi con đường mình đang đi cho đến mục đích cuối cùng mới thôi. Quyết tâm làm thiện, giúp người cứu vật không biết mệt m

Mời bạn đọc cùng làm báo với Nguoiduatin.vn, viết tin bài, bày tỏ quan điểm về mọi mặt của cuộc sống gửi về hộp thư [email protected] .Tất cả thông điệp bạn quan tâm đều là tin tức

Thiền++ xem nhiều

  • Video: Giáp mặt 'siêu trộm' U50 cuỗm điện thoại trong chớp mắt

    Video: Giáp mặt 'siêu trộm' U50 cuỗm điện thoại trong chớp mắt

  • Chở quá tải, đổ than xuống đường, chủ xe đe dọa lực lượng chức năng

    Chở quá tải, đổ than xuống đường, chủ xe đe dọa lực lượng chức năng

  • Video: Đánh sập đường dây vận chuyển cần sa lớn từ Lào về Việt Nam

    Video: Đánh sập đường dây vận chuyển cần sa lớn từ Lào về Việt Nam